Chương 1: Những vấn đề lý luận về P G PL của các cơ quan chuyên 7 môn thuộc U N cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng P G PL của các cơ quan chuyên môn thuộc U N tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động P G PL của các cơ quan chuyên môn thuộc U N tỉnh Đắk Lắk. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND CẤP TỈNH 1.
Khái quát chung về PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh 1. Khái niệm PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh 1.1 Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật PBGDPL là một vấn đề đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm, trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về khái niệm PBGDPL. Sự khác nhau về quan điểm, quan niệm đó sẽ dẫn đến những lựa chọn khác nhau về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện. Vì vậy, việc tiếp cận khái niệm PBGDPL một cách đúng đắn, khoa học sẽ giúp cho việc lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp PBGDPL phù hợp.
Trên thực tế, P G PL ít được đề cập đến như một khái niệm mang tính học thuật. Trong các tài liệu khoa học, thuật ngữ thường được sử dụng là giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trong hầu hết các văn kiện của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn liên quan, PBGDPL được sử dụng một cách phổ biến. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ PBGDPL với ý nghĩa chung đó.
Theo từ điển Tiếng Việt (NX Đà Nẵng năm 1997) hay Từ và ngữ Hán Việt (NX Từ điển ách Khoa - 2002) thì “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến”. [1, tr785] 9 Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân. ên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể. Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế.
Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn. Theo Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội”. [1, tr785] So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể.
Trong quá trình nghiên cứu, quản lý và trực tiếp thực hiện các hoạt động P G PL tại địa phương, tác giả rất tâm đắc với quan niệm “PBGDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể PBGDPL được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương pháp nhằm tác động đến đối tượng được PBGDPL giúp họ nắm được các quy định của pháp luật và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và từ đó có những hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật”.2 Khái niệm về cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh Theo Điều 3, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc U N tỉnh, thành phố 10 trực thuộc trung ương, thì “Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan ngang sở (sau đây gọi chung là sở). Sở là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh” [2]. Theo Điều 8 của Nghị định này, về cơ bản thì U N cấp tỉnh có tất cả 17 cơ quan chuyên môn, bao gồm: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ,T &XH), Sở Văn hóa, Thể Thao và u lịch (VH,TT& L), Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng U N tỉnh. Ngoài ra, tùy vào tình hình thực tế của địa phương, U N tỉnh có thể thành lập thêm các cơ quan đặc thù là Sở Ngoại vụ, an ân tộc, Sở Quy hoạch – Kiến trúc.[2] Như vậy, ở đơn vị hành chính cấp tỉnh, khác với cơ quan có thẩm quyền chung là U N cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa bàn cấp tỉnh, thì cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh được lập ra nhằm giúp U N cấp tỉnh - cơ quan có thẩm quyền chung, quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc một ngành hoặc lĩnh vực nhất định.3 Khái niệm về PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh Từ khái niệm về P G PL và khái niệm của cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh, tác giả cho rằng có thể hiểu khái niệm PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh là “hoạt động có định hướng, có tổ chức, 11 có chủ định do cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện bằng nhiều hình thức, phương pháp nhằm tác động đến đối tượng được PBGDPL trên địa bàn cấp tỉnh, giúp họ nắm được các quy định của pháp luật và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và từ đó có những hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật”.2 Đặc điểm về PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh Hoạt động, P G PL của cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh có những đặc điểm sau: Một là, PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là trách nhiệm, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan này.
Tại Khoản 3, Điều 4, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ “Phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao”. Cụ thể hơn, tại các Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh đều có quy định về nhiệm vụ “Phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước” của các cơ quan này. o đó, đối chiếu quy định trên với quy định tại Điều 8, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh thì tác giả có thể khẳng định rằng: các cơ quan chuyên môn thuộc U N cấp tỉnh có trách nhiệm tham mưu cho U N cấp tỉnh tiến hành hoạt động P G PL về hầu hết các ngành, lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp tỉnh, từ các quy định của pháp luật về lĩnh vực đất đai, xây dựng thuộc phạm vi quản lý của Sở Tài Nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng đến các quy định về lĩnh vực y tế, giáo dục, an toàn giao thông thuộc phạm vi quản lý của Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, 12 Sở Giao thông – Vận tải …và Sở Tư pháp có nhiệm vụ P G PL về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp, đồng thời, Sở Tư pháp được giao thêm chức năng làm “đầu mối”, giúp U N tỉnh quản lý nhà nước về công tác P G PL tại địa bàn cấp tỉnh. [2] Từ các quy định trên có thể hiểu, PBGDPL của cơ quan chuyên môn thuộc U ND cấp tỉnh là một trong những nhiệm vụ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực, ngành được giao và trách nhiệm thực hiện hoạt động này được quy định tại Nghị định, các Thông tư hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc U N tỉnh và tại Luật PBGDPL.
Đây là hoạt động của các cơ quan hành chính để thực hiện chức năng quản lý nhà nước nên được bố trí bộ máy, con người cũng như kinh phí để tổ chức thực hiện và được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật nên có nhiều điểm khác biệt so với hoạt động PBGDPL của các tổ chức khác như: hoạt động P G PL của các tổ chức Đảng, đoàn thể thường mang tính tuyên truyền, vận động hay hoạt động P G PL của cơ quan báo chí, truyền thông là do các cơ quan này “tự nguyện” thực hiện. Hai là, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh đóng vai trò “nòng cốt” trong việc thực hiện công tác PBGDPL trên địa bàn cấp tỉnh. Điều 2, Luật P G PL quy định về quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân đã nêu rõ: “Công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật”.
Để đảm bảo thực hiện quyền này, Điều 3, Luật P G PL quy định về chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật là “Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt”.