đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hóa triệt để. Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ. Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang…. và một số trường đại học khác áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó.
Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ bắt đầu chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2012 – 2013. Mặc dù trong các buổi hội thảo về nâng cao chất lượng học tập của sinh viên cũng như đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Thu Hương “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ” đề cập đến vấn đề tự học, nhưng hoạt động tự học theo học chế tín chỉ vẫn còn là vấn đề mới. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm rộng và bao quát, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn.
Khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường đứng trên nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận lại có những định nghĩa khác nhau, cụ thể: Theo Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. 480] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Taylor – người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã nêu lên tuyên ngôn trong quản lý là: “Một công việc dù đơn giản đến đâu cũng phải có một phương pháp làm việc khoa học”.
Theo ông: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. 33] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoach hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. 9] Như vậy, khái niệm quản lý được đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, các khái niệm trên nêu lên bản chất chung của khái niệm quản lý: gồm chủ thể quản lý và khách thể quản lý, chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu; khách thể quản lý là những người chịu sự tác động của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.
Quản lý có bốn chức năng cơ bản, thông qua đó chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu xác định: Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. 12] Kế hoạch hóa có vai trò quan trọng vì nó là giai đoạn khởi đầu của quá trình quản lý, tạo tiền đề cho việc thực hiện các chức năng tiếp theo. Nó cho phép nhà quản lý hình dung rõ hơn về quá trình phát triển của tổ chức, lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn nhân lực, kịp thời phát hiện, ứng phó với tính không chắc chắn của môi trường đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
13] Tổ chức được coi là chức năng cốt lõi của quản lý vì khi tiến hành có khoa học và hiệu quả nó sẽ giúp người quản lý sử dụng triệt để nhất các nguồn lực của tổ chức, nhất là nguồn nhân lực, giúp cho các thành viên trong tổ chức phát huy tốt nhất năng lực, tích lũy kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. 13] Lãnh đạo là một trong những hoạt động chủ yếu của nhà quản lý vì nó giúp biến những sản phẩm của quá trình kế hoạch hóa và tổ chức thành hiện thực thông qua việc tác động đến con người. Cũng thông qua chức năng này tài năng của nhà quản lý được thể hiện rõ nét thông qua việc tạo uy tín, sự ảnh hưởng đến các thành viên trong tổ chức.
Kiểm tra là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. 13] Kiểm tra giúp nhà quản lý xác định chính xác các nguyên nhân không đạt mục tiêu và kịp thời khắc phục, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới tổ chức. Bốn chức năng của quản lý có mối liên hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong khoảng thời gian, không gian xác định. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý mang tính khoa học vì nó là hoạt động có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Quản lý còn mang tính nghệ thuật vì nó là một hoạt động thực tiễn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vô cùng phong phú, đầy biến động và không có quy tắc chung cho mọi tình huống. Để đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức, người quản lý cần có những bí quyết sắp xếp nguồn nhân lực, nghệ thuật giao tiếp, kỹ năng ứng xử, khả năng thuyết phục đối với mọi thành viên trong tổ chức. Với sự phát triển của xã hội hiện nay, vai trò của quản lý ngày càng được nâng cao vì vậy mỗi cấp quản lý, mỗi lĩnh vực hoạt động cần vận dụng lý luận chung và lý luận cụ thể để phù hợp với quy mô và đặc thù của tổ chức và qua đó nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý.
Học chế tín chỉ Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học. Theo Từ điển Giáo dục học, tín chỉ là đơn vị nội dung trong chương trình môn học bao gồm một khối lượng kiến thức và kỹ năng tương đối gắn kết với nhau về chủ điểm cần được sinh viên hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định tương ứng và được kiểm tra, đánh giá kết quả, mỗi môn học được chia thành nhiều học phần có tối thiểu từ 2 tín chỉ trở lên. Sinh viên phải học và có điểm kiểm tra tất cả các tín chỉ quy định mới được coi là hoàn thành chương trình môn học.
Cách tổ chức dạy học theo từng tín chỉ của học phần mỗi môn học tạo thuận lợi cho sinh viên phát huy hết năng lực học tập của mình vì được tự do lựa chọn và cơ động lựa chọn những tín chỉ phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh riêng của mình. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington. Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các môn học lý thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần. Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về tín chỉ chúng ta có thể hiểu như sau: Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: học tập trên lớp; học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giảng viên); và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.
Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn. Việc chuyển đổi chương trình đào tạo từ bắt buộc sang tự chọn lập tức đòi hỏi phải tạo ra một hệ thống quản lý để theo dõi quá trình học tập của sinh viên cho đến khi tốt nghiệp.