Chương 1. Những vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình và pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình. Thực trạng pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam.
8 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Trong lịch sử phát triển của thế giới loài người, hình thức LĐGVGĐ đã có mặt từ rất sớm và được thể hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau. Vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, nô lệ không được xem là con người mà chỉ được xem là một thứ hàng hóa, tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Đến thời kỳ phong kiến, gia nô (nô bộc, nô tì) cũng không được coi trọng, họ là được xếp vào tầng lớp thấp nhất của xã hội.
Công việc của họ là giúp việc nhà và phục vụ cho chủ nhà. Bởi lẽ, gia chủ là những người giàu có và có thế lực trong xã hội, họ đã bỏ tiền ra thuê người khác làm gia nô để phục vụ họ hoặc bắt buộc người nợ tiền họ về làm gia nô để trừ nợ. Đối với xã hội ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, LĐGVGĐ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các hộ gia đình và cả xã hội. Chính vì vậy, LĐGVGĐ ngày càng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong lực lượng lao động của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, giá trị của công việc này vẫn bị xã hội đánh giá thấp. Nghề GVGĐ vẫn bị nhiều người cho là nghề nghiệp không cần đến chuyên môn và không được tôn trọng. LĐGVGĐ trên thế giới và ở Việt Nam phần lớn là lao động nữ, nhiều quốc gia là những NLĐ nữ nhập cư, chủ yếu xuất thân từ nông thôn, điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật thấp, hơn nữa họ thường làm việc đơn lẻ trong môi trường khép kín tại một hoặc một vài hộ gia đình. Do đó, khi tham gia vào QHLĐ họ thường là người yếu thế, dễ bị thiệt thòi, dễ bị xâm phạm quyền lợi.
Chính vì vậy, pháp luật của nhiều quốc gia đã có những quy định pháp lý đặc thù và phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của LĐGVGĐ. Trong thời gian gần đây, nghiên cứu về LĐGVGĐ đã được nhiều học giả và nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm tiếp cận toàn diện trên nhiều khía cạnh (kinh tế, xã hội và pháp lý). Đặc biệt từ sau khi ILO thông qua Công ước 9 số 189 về “Việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình” những nghiên cứu về pháp luật liên quan LĐGVGĐ được quan tâm hơn. Pháp luật ở mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về LĐGVGĐ tuy nhiên xu hướng chung của đa số các quốc gia tập trung vào xây dựng và hoàn thiện những quy định và dần dần thúc đẩy thực thi pháp luật đảm bảo hiệu quả trên thực tiễn.
Xuất phát từ những khía cạnh trên, tác giả tiến hành nghiên cứu, rà soát các công trình khoa học quốc tế cũng như trong nước liên quan đến QHLĐ giúp việc gia đình, tập trung trong lĩnh vực khoa học pháp lý nhằm đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án. Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về QHLĐ giúp việc gia đình và pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình Về khía cạnh lý luận đối với QHLĐ giúp việc gia đình và lý luận pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình, trên thế giới cũng như trong nước đã có một số công trình nghiên cứu đề cập. Mỗi công trình khoa học như sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, luận văn thạc sỹ, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học… có những cách tiếp cận và luận giải riêng về LĐGVGĐ. * Công trình nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu “Moving towards Decent work for Domestic workers: An Overview of the ILO’s work” (Tạm dịch: Hướng đến việc làm bền vững cho NLĐ giúp việc gia đình: Tổng quan về công việc của ILO) của tác giả Asha D’Souza đã trình bày rõ định nghĩa về công việc giúp việc gia đình, lao động giúp việc gia đình.
Từ đó phân tích các đặc điểm đặc trưng của loại hình lao động này như điều kiện làm việc, thời gian làm việc, tiền lương,…. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng trên thế giới của công việc dễ bị tổn thương này, những vấn đề mà NSDLĐ cũng như NLĐ gặp phải.3 3 Asha D’Souza (2010), Moving towards Decent work for Domestic workers: An Overview of the ILO’s work, ILO Bureau for Gender Equality 10 Trong nghiên cứu “A Study on Female Domestic Workers in India” (Tạm dịch: Nghiên cứu về NLĐ nữ giúp việc gia đình ở Ấn Độ) của tác giả Yogita Beri đăng trên tạp chí Journal of Interdisciplinary Cycle Research đã phân tích rất cụ thể về định nghĩa người giúp việc gia đình dựa trên quan điểm của ILO và các quy định có liên quan. Ngoài ra, dựa trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và đánh giá các nguồn tài liệu tham khảo của ILO và chính phủ Ấn Độ, tác giả cũng đã trình bày cụ thể những đặc điểm, tình trạng của LĐGVGĐ, cũng như phân tích những khó khăn, thách thức mà người LĐGVGĐ phải đối mặt trên thực tế4., & Van Wissen, L “Negotiating between patriarchy and emancipation: Rural-to-urban migrant women in Albania” (Tạm dịch: Đàm phán giữa chế độ gia trưởng và giải phóng: Phụ nữ di cư từ nông thôn đến thành thị ở Albania) (2012) tại tạp chí Gender, Place and Culture đã phân tích xu hướng công nghiệp hóa và đô thi hóa tại Albania đã kéo theo sự gia tăng phụ nữ làm GVGĐ. Pháp luật quốc gia này chưa đáp ứng thực tiễn và quyền lợi của LĐGVGĐ còn bị xâm phạm nghiêm trọng về tiền lương, thời gian làm việc… Tác giả S.
Grover “Revisiting the Devyani Khobragade controversy: The value of domestic labor in the global south” (Tạm dịch: Nhìn lại cuộc tranh cãi Devyani Khobragade: Giá trị của lao động giúp việc gia đình ở phía nam bán cầu) (2017) tại tạp chí Asian Journal of Women's Studies đã phân tích giá trị thực của LĐGVGĐ trên toàn cầu khi nhìn nhận từ vấn đề Devyani Khobragade5. LĐGVGĐ trên thế giới có sự phân biệt giữa các quốc gia, bất bình đẳng giữa các khu vực và thậm chí vẫn còn sự phân biệt LĐGVGĐ dựa 4 Yogita Beri (2020), A Study on Female Domestic Workers in India, Journal of Interdisciplinary Cycle Research, Volume XII, Issue VI, P. 5 S Grover (2017) Revisiting the Devyani Khobragade controversy: The value of domestic labor in the global south, Asian Journal of Women's Studies 11 trên xuất thân chủng tộc của họ. Tác giả đã đề cập vấn đề hoàn thiện pháp luật quốc tế về LĐGVGĐ nhằm bảo đảm các quyền lợi cơ bản đối với họ, xóa bỏ khoảng cách và phân biệt chủng tộc trên toàn cầu.
Luận văn thạc sỹ “Social and legal empowerment of domestic workers in Brazil” (Tạm dịch: Trao quyền xã hội và pháp lý cho người giúp việc gia đình ở Brazil) của tác giả Kateryna Byelova đã trình bày những vấn đề lý luận về LĐGVGĐ như khái niệm, đặc điểm của LĐGVGĐ và vấn đề pháp lý về LĐGVGĐ so với những người lao động khác. Bằng các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp… từ nguồn thông tin, tài liệu thứ cấp và điều tra thông qua các cuộc phỏng vấn với người GVGĐ, các gia đình có sử dụng người GVGĐ, tác giả đã trình bày cụ thể những lý do người lao động chọn nghề GVGĐ, điều kiện làm việc của họ, cũng như những thách thức mà người lao động phải đối mặt. Trên cơ sở đó, tác giả đã bàn luận về quyền, nghĩa vụ trên thực tế của NLĐ dựa trên pháp luật Brazil6. Cuốn sách “Irregular migrant domestic workers in Europe: who cares?” (2016) (Tạm dịch: Lao động giúp việc gia đình nhập cư bất thường ở châu Âu: ai quan tâm?) của tác giả A Triandafyllidou đã phân tích những tác động từ chính sách nhập cư của các quốc gia Châu Âu đến vấn đề pháp luật và việc làm trong đó tác động mạnh mẽ đối với LĐGVGĐ7.
Theo nghiên cứu của tác giả, những công trình nghiên cứu trên đây đã đưa ra các quan niệm về LĐGVGĐ từ các phương diện xã hội và pháp lý, đồng thời cũng nêu lên đặc điểm, vai trò của LĐGVGĐ, các loại hình LĐGVGĐ, thực trạng LĐGVGĐ. Những kết quả nghiên cứu này sẽ được tác giả kế thừa 6 Byelova K. (2014), Social and legal empowerment of domestic workers in Brazil, Master Thesis, Norwegian University of Life Sciences. 7 A Triandafyllidou (20216), Irregular migrant domestic workers in Europe: who cares? 12 có chọn lọc để tiếp tục phân tích làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về LĐGVGĐ trong luận án.
* Công trình nghiên cứu trong nước Sách chuyên khảo “Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam” (2018) do TS. Đỗ Thị Dung là chủ biên đã phân tích và luận giải khá sâu sắc về những đặc trưng của của LĐGVGĐ như: LĐGVGĐ thực hiện thường xuyên các công việc trong gia đình; LĐGVGĐ làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ; LĐGVGĐ chủ yếu là lao động nữ và có trình độ học vấn thấp. Ngoài ra, vai trò của LĐGVGĐ và cách thức phân loại LĐGVGĐ cũng được đề cập trong cuốn sách này. Về mặt lý luận pháp luật QHLĐ giúp việc gia đình, công trình nghiên cứu này cũng xác định một số vấn đề cơ bản như xác định chủ thể, khách thể và nội dung của QHLĐ giúp việc gia đình; xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với QHLĐ giúp việc gia đình.
Cuốn sách cũng đã giới thiệu pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu về LĐGVGĐ như pháp luật của Philippines, Uruguay, Thụy Sỹ về LĐGVGĐ. Những quy định này sẽ là kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình. Công trình nghiên cứu là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả cũng như những nhà nghiên cứu khác khi tìm hiểu các vấn đề lý luận về QHLĐ giúp việc gia đình và pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đfinh. Trong cuốn sách chuyên khảo “Lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam” (2018) do TS Ngô Thị Ngọc Anh làm chủ biên đã đưa ra định nghĩa về LĐGVGĐ trên cơ sở tham khảo Công ước số 189 của ILO, pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam.
Đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra những phân tích về giá trị kinh tế - xã hội của LĐGVGĐ8. 8 Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển Cộng đồng (2018), Sách chuyên khảo: Lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam, Hà Nội.