Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lữ Bỉnh Huy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hiền Phương, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2023, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 9 38 01 07).
| Thông tin cơ bản |
Chi tiết |
| Đề tài luận án |
Pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam |
| Tác giả |
Lữ Bỉnh Huy |
| Người hướng dẫn khoa học |
PGS.TS Nguyễn Hiền Phương |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Luật Hà Nội |
| Chuyên ngành / Mã số |
Luật Kinh tế / 9 38 01 07 |
| Năm hoàn thành |
2023 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ) là loại hình lao động xuất hiện sớm trong lịch sử và có đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trên thế giới hiện có khoảng 53 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực giúp việc gia đình, trong đó lao động nữ chiếm tới 83%. Tuy nhiên, tại Việt Nam, dù nhu cầu xã hội đối với loại hình này rất lớn nhưng LĐGVGĐ vẫn chưa chính thức được coi là một nghề. Phần lớn người giúp việc xuất thân từ khu vực nông thôn, hành nghề dựa trên thói quen và kinh nghiệm cá nhân, việc thỏa thuận trong quan hệ lao động (QHLĐ) còn hạn chế và đa số không có thời gian thử việc.
Mặc dù cung cấp các dịch vụ thiết yếu, LĐGVGĐ hiếm khi được tiếp cận đầy đủ các quyền cơ bản, phải làm việc trong những điều kiện vất vả nhưng mức lương trung bình hàng tháng chỉ bằng khoảng 56% so với các nhóm người lao động (NLĐ) khác. Bên cạnh đó, đây là nhóm lao động đặc biệt dễ bị tổn thương, đối mặt với nguy cơ bạo lực, quấy rối và bị hạn chế quyền tự do đi lại.
Ở cấp độ quốc tế, năm 2011, ILO đã thông qua Công ước số 189 về việc làm bền vững đối với LĐGVGĐ cùng Khuyến nghị số 201, thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế phổ quát nhằm bảo vệ nhóm lao động này. Tại Việt Nam, quy định pháp luật đã có những bước chuyển biến cụ thể từ Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012 sang BLLĐ năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) cùng Nghị định số 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này trên thực tế còn bộc lộ nhiều bất cập do trình độ học vấn của người lao động hạn chế, thiếu hiểu biết pháp luật, cùng với công tác quản lý nhà nước chưa đạt hiệu quả. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: sau khi BLLĐ năm 2019 có hiệu lực, các công trình khoa học pháp lý nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về QHLĐ giúp việc gia đình theo tiến trình xác lập, thực hiện, chấm dứt và các biện pháp bảo đảm thực thi còn tương đối hạn chế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về QHLĐ giúp việc gia đình; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình tại Việt Nam; từ đó xây dựng các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước; lựa chọn các công trình khoa học phù hợp làm cơ sở tham khảo.
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về QHLĐ giúp việc gia đình và pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình.
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình ở Việt Nam; đối chiếu, so sánh với pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia.
- Xây dựng các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình ở Việt Nam phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về QHLĐ giúp việc gia đình (trọng tâm là BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành); các thông tin, số liệu, vụ việc thực tiễn về áp dụng pháp luật; các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan; các quy định của ILO và pháp luật của một số quốc gia về QHLĐ giúp việc gia đình.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý, tập trung vào các quy định điều chỉnh trực tiếp QHLĐ giúp việc gia đình theo tiến trình xác lập, thực hiện, chấm dứt QHLĐ và các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện.
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, quy định và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; có sự nghiên cứu so sánh có chọn lọc với pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới.
- Về thời gian: Giới hạn phạm vi nghiên cứu pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình từ năm 2019 đến thời điểm thực hiện luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu của luận án được cấu trúc thành 3 nhóm công trình khoa học chính:
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận
- Nghiên cứu quốc tế: Asha D’Souza (2010) với công trình "Moving towards Decent work for Domestic workers: An Overview of the ILO’s work" phân tích định nghĩa, đặc điểm công việc và tính chất dễ bị tổn thương của LĐGVGĐ; Yogita Beri (2020) trong bài viết "A Study on Female Domestic Workers in India" phân tích định nghĩa và thách thức của lao động nữ giúp việc gia đình tại Ấn Độ; Van Wissen L. (2012) nghiên cứu về phụ nữ di cư nông thôn làm GVGĐ tại Albania; S. Grover (2017) với "Revisiting the Devyani Khobragade controversy: The value of domestic labor in the global south" phân tích giá trị của lao động giúp việc gia đình và sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử; Kateryna Byelova (2014) với luận văn thạc sĩ "Social and legal empowerment of domestic workers in Brazil" làm rõ quyền, nghĩa vụ và điều kiện lao động tại Brazil; A. Triandafyllidou (2016) phân tích tác động của chính sách nhập cư châu Âu đối với LĐGVGĐ qua cuốn "Irregular migrant domestic workers in Europe: who cares?".
- Nghiên cứu trong nước: Sách chuyên khảo "Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam" (2018) do TS. Đỗ Thị Dung chủ biên phân tích đặc trưng, chủ thể, khách thể, nội dung QHLĐ giúp việc gia đình và kinh nghiệm của Philippines, Uruguay, Thụy Sĩ; sách chuyên khảo "Lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam" (2018) do TS. Ngô Thị Ngọc Anh chủ biên phân tích giá trị kinh tế - xã hội của LĐGVGĐ; Báo cáo "Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình" của ILO, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) và Viện Gia đình và Giới (2012) làm rõ quan niệm và khung pháp lý điều chỉnh; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Thúy (2020) nghiên cứu toàn diện lý luận và thực trạng pháp luật về LĐGVGĐ; Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Tình (2020), Phạm Trung Giang (2015), Nguyễn Chung Phước Lưu (2017); Giáo trình Luật Lao động Việt Nam tập 2 (2020) của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người (2011) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và thực tiễn thi hành
- Nghiên cứu quốc tế: Sách hướng dẫn của ILO (2012) "Effective protection for domestic workers: A guide to designing labour laws"; Báo cáo của Anita Liu (2014) "Protecting the rights of Domestic Workers" đánh giá thực trạng LĐGVGĐ tại Việt Nam; Báo cáo của ILO về "The growing trend of Vietnamese migrant domestic workers"; bài viết của Ngô Hà (2021) "Protecting the Rights of Domestic Workers in Vietnam"; Báo cáo của ILO (2020) "Những rủi ro của lao động giúp việc gia đình gặp phải do đại dịch COVID-19" chỉ ra hơn 55 triệu LĐGVGĐ trên thế giới (trong đó 37 triệu là nữ) đối mặt với nguy cơ mất việc làm và thu nhập, khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng cao nhất (76%), tiếp đến là Châu Mỹ (74%), Châu Phi (72%) và Châu Âu (45%).
- Nghiên cứu trong nước: Sách chuyên khảo của TS. Đỗ Thị Dung (2018); khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng (GFCD, 2018); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quỳnh Phương (2018), Nguyễn Thị Việt Anh (2015); bài viết của Đào Mộng Điệp và Trương Thanh Khôi (2017) trên Tạp chí Luật học về quản lý nhà nước đối với LĐGVGĐ; bài viết của Nguyễn Hiền Phương (2018) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về điều kiện lao động và sử dụng LĐGVGĐ.
Nhóm các công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật
- Nghiên cứu quốc tế: Lorena Poblete (2018) phân tích cải cách pháp luật tại Argentina, Chile và Paraguay sau Công ước 189 của ILO; A. Fauve-Chamoux (2004) nghiên cứu lịch sử pháp luật dịch vụ gia đình tại Châu Âu; Upasana Mahanta và Indranath Gupta (2019) xuất bản sách "Recognition of the Rights of Domestic Workers in India: Challenges and the Way Forward".
- Nghiên cứu trong nước: Các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Việt Anh (2014), Trần Linh Trang (2015), Phạm Trung Giang (2015), Nguyễn Thị Thảo (2015), Nguyễn Quỳnh Phương (2018), Nguyễn Chung Phước Lưu (2017).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Qua rà soát, luận án chỉ ra các nghiên cứu trước đây chủ yếu bám sát BLLĐ năm 2012, còn rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ BLLĐ năm 2019. Nhiều công trình chỉ tiếp cận LĐGVGĐ ở từng khía cạnh riêng lẻ hoặc trong giai đoạn thực hiện hợp đồng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về QHLĐ giúp việc gia đình và pháp luật điều chỉnh, đồng thời phân tích thực trạng theo toàn bộ chu trình pháp lý: xác lập, thực hiện, chấm dứt QHLĐ và các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện trong bối cảnh khung pháp lý mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng 3 lý thuyết, học thuyết pháp lý nền tảng:
Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết về hợp đồng: Hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm tạo lập hậu quả pháp lý. Sự tự do ý chí là nền tảng xác lập nội dung, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Dù QHLĐ có những quy định đặc thù của Luật Lao động, lý thuyết chung về hợp đồng vẫn là cơ sở giải thích bản chất của hợp đồng lao động (HĐLĐ) giúp việc gia đình.
- Lý thuyết về quyền con người: Dựa trên học thuyết quyền tự nhiên, quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của mỗi cá nhân. Luận án sử dụng lý thuyết này để luận giải việc pháp luật cần ghi nhận, bảo đảm quyền của người LĐGVGĐ như quyền được bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ sức khỏe, thân thể, danh dự và nhân phẩm.
- Lý thuyết về quyền bình đẳng: Kế thừa tư tưởng quyền tự nhiên của các triết gia như Zeno, Thomas Hobbes, Thomas Paine, John Locke; các văn kiện lịch sử như Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1791 và Điều 16 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ("Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử..."). Lý thuyết này là tiền đề lý giải việc người LĐGVGĐ phải được hưởng các quyền, lợi ích và sự bảo vệ pháp lý bình đẳng, không kém hơn những người lao động khác.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về lao động và an sinh xã hội.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử: Làm rõ quá trình hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam và quốc tế về LĐGVGĐ qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ tình hình nghiên cứu, các quy phạm pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi nhằm chỉ ra các ưu điểm, vướng mắc, bất cập.
- Phương pháp tổng hợp: Tập hợp, phân loại tài liệu, số liệu thống kê, báo cáo thực tiễn để khái quát hóa thành các luận điểm khoa học.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của ILO (Công ước 189, Khuyến nghị 201) và pháp luật của nhiều quốc gia để rút ra bài học kinh nghiệm.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra 4 nhóm câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
- Câu hỏi 1: Quan niệm và đặc điểm của LĐGVGĐ trong QHLĐ giúp việc gia đình?
- Giả thuyết: Do tính chất đặc thù của công việc và người lao động, LĐGVGĐ mang những đặc trưng riêng biệt so với các lĩnh vực lao động khác.
- Câu hỏi 2: Khái niệm, nguyên tắc và nội dung điều chỉnh của pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình?
- Giả thuyết: Pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình là tổng thể các quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa LĐGVGĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ), bao quát từ xác lập, thực hiện, chấm dứt đến các biện pháp bảo đảm thực hiện.
- Câu hỏi 3: Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và những vướng mắc phát sinh?
- Giả thuyết: BLLĐ năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP đã có bước tiến lớn nhưng vẫn tồn tại những khoảng trống, mâu thuẫn hoặc quy định chưa thực sự phù hợp với thực tiễn.
- Câu hỏi 4: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi?
- Giả thuyết: Cần đồng bộ giữa hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể thực thi (NLĐ, NSDLĐ và cơ quan quản lý nhà nước).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình và pháp luật về quan hệ lao động giúp việc gia đình
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về LĐGVGĐ và khung pháp lý điều chỉnh QHLĐ giúp việc gia đình.
1. Khái niệm lao động giúp việc gia đình
Luận án điểm lại định nghĩa đầu tiên của ILO (1951) và định nghĩa tại Điều 1 Công ước số 189 năm 2011 của ILO. Theo ILO, LĐGVGĐ được xác định qua 3 tiêu chí cốt lõi:
- Công việc thực hiện trong hoặc cho một hoặc nhiều hộ gia đình;
- Tính chất công việc diễn ra thường xuyên;
- Bản chất không sinh lời trực tiếp của công việc.
Luận án tổng hợp và so sánh quy định của nhiều quốc gia trên thế giới:
| Hướng tiếp cận định nghĩa |
Quốc gia tiêu biểu |
Quy định cụ thể được trích dẫn |
| Không gian làm việc trong nhà / cho hộ gia đình |
Tây Ban Nha, Kazakhstan, Philippines, Nam Phi, Hoa Kỳ |
- Tây Ban Nha: Nghị định Hoàng gia 1620/2011 quy định mối quan hệ phụ thuộc làm việc có trả lương trong gia đình. - Kazakhstan: Khoản 1 Điều 214 Luật Lao động. - Philippines: Điều 141 BLLĐ 1974 quy định dịch vụ gia đình/nội trợ. - Nam Phi: Điều 173 Luật Điều kiện làm việc cơ bản 1993. - Hoa Kỳ: Dự luật Số 2-08 Hạt Montgomery (Maryland). |
| Bản chất công việc không sinh lời / phi thương mại |
Malaysia, Guatemala, Brazil, Argentina, Uruguay |
- Malaysia: Điều 2 BLLĐ 1955 loại trừ việc gắn với hoạt động thương mại. - Guatemala: Điều 161 BLLĐ. - Brazil: Đạo luật số 5859 (1972). - Argentina: Nghị định số 7.979/56. - Uruguay: Đạo luật số 18.065 (2006) tiếp cận theo hướng kỹ năng đem lại lợi ích kinh tế cho gia đình. |
| Phương pháp liệt kê danh mục công việc |
Costa Rica, Bồ Đào Nha, Brunei, Trung Quốc |
- Costa Rica: Nghị định 1990-G/1999. - Bồ Đào Nha: Nghị định pháp lý 235/92. - Brunei: Điều 2 Luật Lao động (2002). - Trung Quốc: Bao gồm cả chăm sóc người bệnh tại viện, gia sư. |
Tại Việt Nam, Điều 161 BLLĐ năm 2019 định nghĩa:
"Lao động là người giúp việc gia đình là NLĐ làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại."
2. Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình
Luận án xác định 4 đặc điểm mang tính đặc thù của LĐGVGĐ:
- Hình thức biểu hiện mối quan hệ qua HĐLĐ: NLĐ được thuê mướn và thỏa thuận các điều kiện làm việc; công việc mang tính lặp đi lặp lại và là nghề nghiệp tạo thu nhập chính. Khác với hợp đồng dịch vụ dân sự hay khoán việc.
- Môi trường làm việc khép kín, đơn lẻ: Diễn ra chủ yếu trong phạm vi hộ gia đình, ít giao lưu xã hội, không có tổ chức đoàn thể đại diện tại chỗ. NLĐ sống cùng chủ nhà dễ bị kiểm soát tự do, giữ giấy tờ tùy thân, nguy cơ bị xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm hoặc bị lạm dụng sức lao động.
- Thực hiện thường xuyên công việc không có tính chất thương mại: Là chuỗi công việc đa dạng (nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc người già, trẻ nhỏ...) đòi hỏi nhiều kỹ năng và sự am hiểu tâm lý thành viên gia đình; thời gian làm việc và nghỉ ngơi dễ bị đan xen, lẫn lộn.
- Thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân và gia đình: Giúp giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho các thành viên trong hộ gia đình nhưng không trực tiếp sinh lợi nhuận thương mại cho chủ nhà.
3. Phân loại lao động giúp việc gia đình
- Theo thời gian làm việc:
- LĐGVGĐ toàn thời gian (trọn thời gian): Thường sống cùng gia đình NSDLĐ, được chu cấp ăn ở, trả lương theo tháng; thời giờ làm việc linh hoạt nhưng dễ bị kéo dài, không phân định rõ giữa làm việc và nghỉ ngơi.
- LĐGVGĐ không trọn thời gian (bán thời gian / theo giờ): Làm việc trong các khung giờ cố định, không ở cùng gia chủ, có thể làm cho nhiều hộ gia đình khác nhau.
- Theo nơi sinh sống: Sống cùng hộ gia đình NSDLĐ và Không sống cùng hộ gia đình NSDLĐ.
- Theo nội dung công việc: Chăm sóc người (trẻ em, người cao tuổi, người bệnh), nội trợ/nấu ăn, dọn dẹp vệ sinh, quản gia, lái xe, làm vườn...
4. Lý luận về pháp luật điều chỉnh QHLĐ giúp việc gia đình
Pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình là tổng thể các quy phạm do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa LĐGVGĐ và NSDLĐ. Nội dung điều chỉnh bao gồm: xác lập QHLĐ (giao kết HĐLĐ, điều kiện chủ thể); thực hiện QHLĐ (tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế); chấm dứt QHLĐ; và các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện (xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết tranh chấp, quản lý nhà nước).
Chương 2: Thực trạng pháp luật quan hệ lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam
Chương 2 phân tích các quy định hiện hành của BLLĐ năm 2019, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP và các văn bản liên quan, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng:
Thực trạng pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình
-
Thực trạng xác lập QHLĐ giúp việc gia đình:
- Pháp luật quy định bắt buộc giao kết HĐLĐ bằng văn bản đối với LĐGVGĐ (Điều 162 BLLĐ 2019).
- Hạn chế thực tiễn: Phần lớn các bên vẫn giao kết hợp đồng miệng bằng sự tin tưởng cá nhân hoặc qua người quen giới thiệu; người lao động thiếu thói quen và kiến thức pháp lý để yêu cầu giao kết văn bản.
-
Thực trạng thực hiện QHLĐ giúp việc gia đình:
- Tiền lương: NSDLĐ phải trả mức lương không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; quy định về việc chi trả thêm một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc để người lao động tự lo bảo hiểm.
- Thời giờ làm việc, nghỉ ngơi: BLLĐ 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP đã có quy định về thời gian nghỉ ngơi giữa ca, nghỉ hàng tuần; tuy nhiên việc kiểm soát giờ làm việc đối với lao động sống cùng gia đình rất khó khăn, tình trạng làm việc quá 8 giờ/ngày không có thù lao làm thêm giờ diễn ra phổ biến.
- An toàn, vệ sinh lao động: Điều kiện làm việc chưa được kiểm định; nguy cơ tai nạn sinh hoạt và xung đột đời sống gia đình thiếu cơ chế giám sát.
-
Thực trạng chấm dứt QHLĐ giúp việc gia đình:
- Quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của mỗi bên kèm theo thời hạn báo trước; nghĩa vụ thanh toán đầy đủ các khoản tiền lương và hỗ trợ chi phí đi lại (nếu có thỏa thuận).
- Hạn chế thực tiễn: Tình trạng người giúp việc tự ý bỏ việc hoặc gia chủ cho nghỉ việc đột ngột không báo trước diễn ra thường xuyên, khó xử lý trách nhiệm bồi thường.
-
Các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện:
- Xử lý vi phạm hành chính: Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động đã có chế tài cụ thể (như phạt tiền đối với hành vi không ký HĐLĐ văn bản, không trả tiền BHXH/BHYT vào lương, giữ giấy tờ tùy thân), nhưng tỷ lệ phát hiện và xử phạt trên thực tế rất thấp.
- Giải quyết tranh chấp lao động: Tranh chấp giữa người giúp việc và gia chủ chủ yếu được dàn xếp nội bộ; rất hiếm khi đưa ra Hòa giải viên lao động hay Tòa án nhân dân do tâm lý e ngại, chi phí và thời gian tố tụng.
- Quản lý nhà nước: Quy định trách nhiệm của NSDLĐ phải thông báo việc sử dụng LĐGVGĐ với Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi cư trú; tuy nhiên quy định này gần như bị bỏ ngỏ trên thực tế do thiếu cơ chế kiểm tra, đôn đốc.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình tại Việt Nam
Chương 3 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi:
1. Yêu cầu và cơ sở hoàn thiện pháp luật
- Cơ sở lý luận và thực tiễn: Khắc phục những hạn chế, mâu thuẫn trong các quy định hiện hành của BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn; giải quyết các vướng mắc phát sinh từ thực tế đời sống.
- Đảm bảo tính tương thích quốc tế: Hướng tới việc nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế, đặc biệt là tạo cơ sở để Việt Nam từng bước tiến tới phê chuẩn Công ước số 189 của ILO về việc làm bền vững cho LĐGVGĐ.
- Mục tiêu phát triển quan hệ lao động: Xây dựng QHLĐ giúp việc gia đình hài hòa, ổn định, tiến bộ và bảo đảm cân bằng quyền, lợi ích hợp pháp giữa NLĐ và NSDLĐ.
2. Các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
- Hoàn thiện quy định về mẫu HĐLĐ chuẩn cho LĐGVGĐ với các điều khoản rõ ràng về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi, phạm vi công việc và mức tiền lương.
- Bổ sung cơ chế cụ thể về việc tham gia BHXH tự nguyện và BHYT của LĐGVGĐ, bảo đảm khoản tiền chi trả vào lương được sử dụng đúng mục đích an sinh xã hội.
- Cụ thể hóa các quy định bảo vệ NLĐ trước các hành vi bạo lực, lạm dụng sức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hộ gia đình.
- Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm hành chính và đơn giản hóa thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân đối với nghề giúp việc gia đình.
3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
- Đào tạo nghề và chuẩn hóa kỹ năng: Phát triển các chương trình đào tạo nghề giúp việc gia đình chuyên nghiệp, nâng cao kỹ năng chuyên môn và nhận thức pháp luật cho NLĐ.
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Đẩy mạnh công tác truyền thông đến các hộ gia đình và cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức, xóa bỏ định kiến xã hội đối với nghề giúp việc gia đình.
- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước: Nâng cao hiệu quả đăng ký, quản lý lao động của UBND cấp xã; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và phát huy vai trò của các tổ chức đại diện (Công đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung toàn diện các luận cứ lý luận về LĐGVGĐ và pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình dựa trên các học thuyết pháp lý nền tảng (lý thuyết hợp đồng, lý thuyết quyền con người, lý thuyết quyền bình đẳng).
- Xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh về QHLĐ giúp việc gia đình theo tiếp cận chu trình lập pháp: từ khâu xác lập, thực hiện, chấm dứt đến các biện pháp pháp lý bảo đảm thực thi.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá bức tranh thực trạng pháp luật Việt Nam về LĐGVGĐ dưới góc độ BLLĐ năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP; chỉ rõ những khoảng trống pháp lý và rào cản trong việc đưa pháp luật vào đời sống.
- Cung cấp luận cứ so sánh đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn của ILO (Công ước 189) và kinh nghiệm lập pháp của các nước, mở ra định hướng hoàn thiện khung pháp lý và chính sách an sinh xã hội cho nhóm lao động này.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế từ năm 2019 đến nay. Do tính chất khép kín của hộ gia đình, số liệu thực chứng và các bản án xét xử tranh chấp chính thức về LĐGVGĐ tại Tòa án còn hạn chế, chủ yếu dựa trên các báo cáo khảo sát và vụ việc điển hình.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu liên ngành giữa Luật học với Xã hội học pháp luật và Kinh tế học lao động để đánh giá sâu hơn về thị trường dịch vụ giúp việc gia đình.
- Nghiên cứu chuyên biệt về cơ chế thanh tra lao động tại nơi cư trú riêng và mô hình tổ chức đại diện công đoàn cho lao động phi chính thức.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước: Bộ LĐTBXH, các cơ quan của Quốc hội, UBND các cấp tham khảo trong quá trình rà soát, sửa đổi BLLĐ và các văn bản hướng dẫn; nghiên cứu lộ trình phê chuẩn Công ước 189 của ILO.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật: Nguồn tham khảo hệ thống về pháp luật lao động đặc thù, các học thuyết pháp lý ứng dụng và kinh nghiệm so sánh pháp luật quốc tế.
- Các tổ chức xã hội và tổ chức đại diện: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ trong việc xây dựng chương trình hỗ trợ, tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Bộ luật Lao động 2019 đưa ra những tiêu chí nào để nhận diện lao động giúp việc gia đình?
Theo Điều 1 Công ước số 189 của ILO và Điều 161 BLLĐ năm 2019, LĐGVGĐ được xác định qua 3 tiêu chí cốt lõi:
- Nơi làm việc là trong hoặc cho một hoặc nhiều hộ gia đình;
- Tính chất công việc được thực hiện thường xuyên (mang tính nghề nghiệp ổn định, không phải công việc thỉnh thoảng);
- Nội dung công việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình và không liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh sinh lời của NSDLĐ.
2. Luận án chỉ ra những đặc điểm đặc thù nào của môi trường làm việc đối với lao động giúp việc gia đình?
Môi trường làm việc của LĐGVGĐ diễn ra trong không gian riêng tư của hộ gia đình, mang tính khép kín và đơn lẻ. Đặc thù này dẫn đến việc người lao động ít có cơ hội giao lưu bên ngoài, thiếu tổ chức bảo vệ tại chỗ, dễ bị gia chủ kiểm soát quyền tự do cá nhân (giữ giấy tờ, hạn chế liên lạc), thời gian làm việc và nghỉ ngơi bị lẫn lộn, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ bị bạo lực, xúc phạm danh dự hoặc lạm dụng sức lao động.
3. Luận án sử dụng những lý thuyết nền tảng nào để nghiên cứu quan hệ lao động giúp việc gia đình?
Luận án sử dụng 3 lý thuyết pháp lý nền tảng:
- Lý thuyết về hợp đồng: Giải thích nguyên tắc tự do ý chí và thỏa thuận xác lập quyền, nghĩa vụ giữa các bên;
- Lý thuyết về quyền con người: Luận giải quyền được bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ thân thể, sức khỏe, nhân phẩm của người lao động;
- Lý thuyết về quyền bình đẳng: Luận giải yêu cầu bảo đảm quyền lợi của LĐGVGĐ không bị phân biệt đối xử so với các nhóm lao động khác trong xã hội.
4. Số liệu thống kê của ILO được luận án dẫn chứng về tác động của đại dịch COVID-19 đối với lao động giúp việc gia đình là gì?
Báo cáo năm 2020 của ILO chỉ ra hơn 55 triệu LĐGVGĐ trên toàn thế giới (trong đó 37 triệu là phụ nữ) đứng trước nguy cơ mất việc làm và thu nhập do các biện pháp phong tỏa. Khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với 76% lao động có nguy cơ bị ảnh hưởng, tiếp theo là Châu Mỹ (74%), Châu Phi (72%) và Châu Âu (45%).
5. Hệ thống các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện pháp luật về QHLĐ giúp việc gia đình gồm những nội dung nào?
Theo kết cấu của luận án, các biện pháp bảo đảm bao gồm 3 trụ cột:
- Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động giúp việc gia đình;
- Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động (thông qua thương lượng, hòa giải viên lao động và Tòa án nhân dân);
- Hoạt động quản lý nhà nước về lao động (trọng tâm là đăng ký, thông báo sử dụng lao động tại UBND cấp xã và công tác thanh tra, kiểm tra).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lữ Bỉnh Huy là công trình nghiên cứu hệ thống về pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam trên nền tảng BLLĐ năm 2019. Tác phẩm đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận đặc thù, phân tích toàn diện thực trạng pháp luật theo chu trình từ xác lập, thực hiện đến chấm dứt hợp đồng và các biện pháp bảo đảm thi hành. Trên cơ sở đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế của ILO, luận án đã đề xuất các nhóm kiến nghị và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và xây dựng quan hệ lao động giúp việc gia đình hài hòa, bền vững.