Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE TIEN LƯƠNG DOANH NGHIỆP VA PHÁP LUAT LAO ĐỘNG VE TIEN LUONG DOANH NGHIEP 1. Khái quát chung về tiền lương. Khái niệm tiền lương. Tiền lương là một phạm trù vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế, tiền lương được nghiên cứu chủ yếu với tư cách là một bộ phận của chi phi sản xuất kinh doanh, là giá cả của hàng hóa sức lao động. Dưới góc độ pháp lý, tiền lương được nghiên cứu chủ yếu với tư cách là một chế định của pháp luật lao động, là tương quan pháp lý giữa người sử dụng lao động và người lao động trong lĩnh vực trả công lao động. Là một chế định quan trọng của pháp luật lao động, chế định tiền lương bao gồm tổng hợp các quy định của pháp luật về nguyên tắc trả lương; mức lương tối thiểu; hệ thống thang lương, bảng lương: chế độ phụ cấp lương; chế độ tiền thưởng: cơ chế xác lập tiền lương. Là tương quan pháp lý giữa người lao động và người sử dụng lao động, tiền lương thể hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi bên nhằm đảm bảo công bằng và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động “”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã định nghĩa tiền lương “7à sự tra công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải lam”. Dinh nghĩa trên của ILO đã chỉ ra các dau hiệu cơ bản dé nhận biết tiền lương, đó là: (i) tiền lương là sự trả công lao động: (ii) tiền lương được biểu hiện bang tiền; (iii) tiền lương được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa t2 Xem: [20, tr 329]. 5 người lao động và người sử dụng lao động hoặc băng pháp luật quốc gia; (iv) tién lương được trả bởi lí do người lao động đã hoặc sẽ phải thực hiện một công việc hoặc dịch vụ cho người sử dụng lao động trên cơ sở của hợp đồng lao động. Như vậy, yếu tô pháp lý của tiền lương được biểu hiện qua việc người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận về tiền lương một cách bình đắng và không trái với quy định của pháp luật.
Day có thé được coi là một định nghĩa khá toàn diện về tiền lương xét ở góc độ pháp lý và đã được pháp luật lao động của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế — xã hội cụ thé của đất nước mình. Điều 55 Bộ luật lao động đã được sửa đôi, bố sung của nước ta quy định: “7iên lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tôi thiểu do Nhà nước quy định”. Tóm lại, dưới góc độ pháp luật lao động, “tién lương được hiểu là số tién mà người sử dung lao động phải trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công việc và điều kiện lao động, được xác định theo sự thỏa thuận hợp pháp giữa hai bên trong hợp đồng lao động hoặc theo quy định của pháp luật”.
Tiền lương lại được biéu hiện ở hai khía cạnh là tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế. Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo mức do hai bên thỏa thuận không trái pháp luật. Tiền lương thực tế là số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà người lao động có thể mua được từ tiền lương danh nghĩa để phục vụ cho cuộc sống của bản thân và gia đình, sau khi đã đóng góp các khoản thuế, các khoản nộp khác theo quy định. Do đó, có thé nói, chỉ tiền lương thực tế mới phản ánh chính xác mức sống thực của người lao động trong từng thời điểm.
Khi giá cả sinh hoạt tăng lên, tiền lương thực tế sẽ bị giảm sút và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động. Vì vậy, bên cạnh việc điều tiết giá cả thị trường, việc điều chỉnh tăng mức tiền lương tối thiêu tương ứng với tỷ Xem: [20, tr 331]. lệ tăng của giá cả thị trường là một trong những giải pháp của Nhà nước nhằm bảo vệ sức mua của tiền lương danh nghĩa, giảm sự chênh lệch giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế, qua đó đảm bảo đời sống ổn định cho người lao động. Các đặc điểm cơ bản của tiền lương trong nền kinh tế thị trường.
Trong điều kiện của nền kinh tế thi trường, tiền lương có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tiền lương được hình thành trên thị trường lao động có sự quản lý của Nhà nước thông qua các quy định pháp luật. Nhà nước thường xuyên tô chức giám sát, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về tiền lương để đảm bảo lợi ích chính đáng của người lao động. Tiền lương trong nền kinh tế thị trường không mang tính chất đối kháng giữa người lao động và người sử dụng lao động mà được đặt trong mỗi quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi. Thứ hai, tiền lương có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức tăng lợi nhuận, tăng năng suất lao động nếu xét trên phạm vi từng doanh nghiệp.
Còn nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, việc tang tiền lương, thu nhập, mức sông được dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và sự tăng trưởng của nên kinh tế. Thứ ba, giá tri sức lao động là căn cứ dé xác định mức tiền lương. Vi vậy, việc trả lương cho từng cá nhân người lao động thường dựa trên kết quả lao động của họ, tức là dựa trên năng suất lao động, SỐ lượng, chất lượng lao động và hiệu quả công việc trong điều kiện lao động cụ thể. Thứ tư, thông qua chính sách tiền lương, Nhà nước tham gia tích cực vào các quá trình phân phối được thê hiện thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế — xã hội; đồng thời khuyến khích người lao động phát huy tính tích cực, sáng tạo trong công việc, hạn chế các tiêu cực phát sinh.
Thứ năm, bên cạnh tiền lương thì việc làm, an toàn vệ sinh lao động và an sinh xã hội là những mối quan tâm hàng đầu của người lao động. Do đó, mức tiền lương cần phải tinh đúng, tính đủ các hao phí cần thiết dé người 7 lao động có thé duy trì cuộc sống, tái sản xuất sức lao động, ngay cả khi họ không còn sức lao động. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở nước ta và sự ảnh hưởng đến tiền lương. Nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và có một số đặc điểm ảnh hưởng, chi phối đến tiền lương, đó là: Thứ nhất, nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần CÓ Sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) với nhiều hình thức sở hữu, trong đó, thành phần kinh tế nhà nước và hình thức sở hữu tương ứng giữ vai trò chủ đạo.
Do đó, tiền lương trong khu vực doanh nghiệp nhà nước có tác động chi phối nhất định tới mức lương trên thị trường lao động khu vực sản xuất kinh doanh nói chung. Thứ hai, hình thức phân phối chủ yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là phân phối theo lao động. Chính hình thức phân phối này quyết định sự hình thành các thang, bậc lương, mức lương và các hình thức tiền thưởng trong nền kinh tế. Thứ ba, nền kinh tế thị trường nước ta phát triển theo hướng ngày càng khắc phục tồn tại, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư thông qua các chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng khuyến khích các hình thức lao động sáng tạo, làm giàu, giải phóng sức lao động. để không ngừng nâng cao tiền lương, thu nhập, nâng cao mức sống, chất lượng sông của người lao động. Thứ tư, nền kinh tế thị trường nước ta có sự hợp tác, trao đổi bình đăng và cùng có lợi giữa các vùng trong nước, giữa các dân tộc và các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, mức tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng thường xuyên có sự điều chỉnh để phù hợp hơn với mặt băng tiền lương nói chung trên thị trường lao động trong nước, trong khu vực và trên thé giới.
Những vấn đề lý luận cơ bản về tiền lương doanh nghiệp. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của tiền lương doanh nghiệp. Tiền lương doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ thang lương, bảng lương, cách xác định mức phụ cấp, tiền thưởng trong doanh nghiệp cũng như cách thức và thời hạn trả lương, được doanh nghiệp quy định trong quy chế trả lương, thưởng tại doanh nghiệp hoặc do hai bên thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể, dựa trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật lao động về tiền lương. Tiền lương doanh nghiệp có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, mức tiền lương do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động (đối với cá nhân người lao động) hoặc được ghi nhận trong thỏa ước lao động tập thé có tính chất định khung (đối với tập thé người lao động trong doanh nghiệp).
Người lao động được quyền tự do quyết định về giá cả sức lao động của mình trên cơ sở thỏa thuận mức lương với doanh nghiệp trong hợp đồng lao động. Tiền lương doanh nghiệp cũng có thé được ghi nhận trong thỏa ước lao động tập thể theo sự thỏa thuận của doanh nghiệp và tập thé người lao động dé làm cơ sở trả lương. Việc thỏa thuận về tiền lương thường căn cứ vào nhu cau, điều kiện của doanh nghiệp, khả năng lao động của người lao động cũng như quy luật cung cầu, giá cả trên thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước. Thứ hai, thang lương, bảng lương theo quy định của Nhà nước chỉ là cơ sở dé các bên xem xét, thỏa thuận về tiền lương mà không có tính chất bắt buộc.