Chương 1: Một số vấn dé lý luận về pháp luật giao kết hợp đồng lao động và quy định của pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đông lao động. Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH Công nghệ thông tin và Truyền thông Gtel. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đông lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Công ty TNHH Công nghệ thông tin và Truyền thông Giel. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHAP LUAT GIAO KET HOP DONG LAO DONG VA QUY DINH CUA PHAP LUAT VIET NAM VE GIAO KET HOP DONG LAO DONG 1.1 Một số vấn dé lý luận về pháp luật giao kết hop đồng lao động 1.1 Khái niệm vàý nghĩa giao kết hợp đồng lao động 1.
Khái niệm giao kết hợp đồng lao động Như chúng ta đã biết, hợp đồng lao động bản chất là sự thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện giữa hai chủ thé là người sử dụng lao động và người lao động, trong đó người lao động thực hiện công việc, dùng sức lao động của mình để hoàn thành công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động quản lý, giám sát người lao động thực hiện công việc và trả lương cho người lao động. Điều quan trọng và mang tính chất quyết định của hợp đồng lao động đó là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động để thực hiện công việc. Nếu không có sự thỏa thuận này sẽ không thé hình thành hợp đồng lao động và cũng không thé xác định được quyển và nghĩa vụ của các bên, tiền công mà người lao động được trả, yêu cầu công việc của người sử dụng lao động và một số van dé khác. Khi đã thỏa thuận xác định được nội dung của hợp đồng thì mới hình thành nên hợp đồng lao động, đảm bảo duy trì quan hệ lao động.
Do đó, quá trình thỏa thuận, đàm phán nội dung hay còn gọi là quá trình giao kết hợp đồng lao động rất quan trọng, là tiền dé dé hình thành hợp đồng lao động, làm phát sinh quan hệ lao động. Theo một số định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt thì giao kết là “cam kết thực hiện ”! hoặc “đưa ra và cam kết những điều mà môi bên phải thực hiện ", còn hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chdm ditt quyền, nghĩa vu dan sự "3. Như vậy có thé đưa ra định nghĩa: giao kết hợp đồng lao động là việc người lao động và người sử dụng lao động thực hiện thỏa thuận, đàm phán và cam kết thực hiện các nội dung về thực hiện công việc, trả công, các điều kiện làm việc, quyển và nghĩa vụ của các bên và các nội đung khác khi tham gia quan hệ lao 1 Từ điền Tiéng Việt, tác giả Hoàng Phê (2017), Nxb Đà Nẵng, In lần thứ 5, tr. ? Từ điện Tiêng Việt, tác giả Như Y, Nxb Đà Nẵng, tr.
43 3 Điều 385 Bộ luật Dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015 động để xác lập các nội dung đã thống nhất bằng các hình thức theo quy định của pháp luật.2 Ý nghĩa của giao kết hợp đông lao động Có thé thấy hợp đồng lao động là hình thức phố biến được sử dụng dé tạo lập và hình thành quan hệ lao động. Hợp đồng lao động cũng là công cụ hữu hiệu dé các bên duy trì quan hệ lao động. Giao kết hợp đồng lao động có vai trò ảnh hưởng trực tiếp tới các bên trong quan hệ lao động, ảnh hưởng đến lĩnh vực lao động trong đời sống xã hội. Cụ thể, giao kết hợp đồng lao động mang các ý nghĩa sau: Thit nhất, giao kết hop đồng lao động là cơ sở dé tạo lập và hình thành quan hệ lao động.
Dé hình thành quan hệ lao động, các bên buộc phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý. Và hợp đồng lao động chính là công cụ pháp lý để các bên sử dụng làm cơ sở trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Giao kết hợp đồng lao động chính là giai đoạn mà các bên đưa ra những thỏa thuận, đàm phán các nội dung mà các bên sẽ thực hiện. Không có giai đoạn giao kết hợp đồng lao động sẽ không thé hình thành nên quan hệ lao động.
Khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động biết được các nội dung về công việc mình sẽ làm, mức trả công, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, các điều kiện làm việc và các thông tin khác. Cùng với đó, người sử dụng lao động cũng biết được các thông tin của người lao động như năng lực, trình độ của người lao động có thể đáp ứng được yêu cầu công việc hay không, những yêu cầu của người lao động đưa ra có phù hợp với tinh hình của người sử dụng lao động không, hoặc các thỏa thuận liên quan đến quyển quản lý, giám sát của người sử dụng lao động. Do đó quá trình hai bên đàm phán, thỏa thuận dé thống nhất các nội dung điều khoản của hợp đồng lao động là vô cùng cần thiết. Trường hợp người lao động và người sử dụng lao động cùng đồng ý với các nội dung của bên còn lại đưa ra thì hợp đồng lao động được ký kết và quan hệ lao động hình thành.
Nếu các bên không thống nhất được các nội dung thì quan hệ lao động không phát sinh. Vì vậy có thể khẳng định giao kết hợp đồng lao động là cơ sở đề tạo lập và hình thành quan hệ lao động. Thứ hai, giao kết hợp đồng lao động giúp các bên được dam bảo quyên và lợi 10 ích hợp pháp trong quan hệ lao động. Giao kết hợp đồng lao động là giai đoạn để các bên đưa ra thỏa thuận, yêu cầu đối với bên còn lại để đàm phán, thỏa thuận phi hợp với nhu cầu về lợi ích, nguyện vọng của các bên.
Khi quyền lợi được dam bảo thi những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động cũng sẽ hạn chế, ít xây ra hơn. Trường hợp khi giao kết hợp đồng lao động mà không đảm bảo được các quyền và lợi ích của mỗi bên tham gia, quan hệ lao động có thể bị chấm dứt. Bởi vậy van dé dam bảo quyên và lợi ích hợp pháp của các bên khi giao kết hợp đồng lao động là vô cùng quan trọng, là giai đoạn quyết định việc có hay không hình thành quan hệ lao động giữa các bên. Khi các bên giao kết hợp đồng lao động và thực hiện các nội dung đã giao kết sẽ hạn chế được các xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động, từ đó giúp én định thị trường lao động.2 Khái niệm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động Theo một số văn bản sách giáo trình định nghĩa pháp luật là “hệ thong quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội theo muc dich, định hướng của nhà nước.
“” Đối với việc giao kết hợp đồng lao động cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh bởi đây là mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong đó người lao động thường là bên gặp nhiều sự bắt lợi hơn do là bên làm thuê, thực hiện công việc theo yêu cầu, chịu sự quản lý, giám sát của bên người sử dụng lao động. Khi thực hiện thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng lao động thì phía người sử đụng lao động sẽ là bên yếu thế hơn. Pháp luật về giao kết hợp đồng lao động ra đời dé dam bảo sự cân bằng về quyền lợi giữa các bên, qua đó giúp cho người lao động được đáp ứng những yêu cầu cơ ban trong quá trình thực hiện công việc và nhận được các quyên lợi trong xứng. Đối với người sử dụng lao động nếu không tuân thủ các quy định pháp luật này sẽ bị áp dụng các chế tài tùy theo các mức độ vi phạm.
Từ những phân tích nêu trên, kết hợp với khái niệm về giao kết hợp đồng lao động, ta có thé đưa ra định nghĩa pháp luật về giao kết hợp đồng lao động là: hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện 4 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb.212 11 nhằm điều chỉnh quan hệ giữa người lao động và người sử dung lao động trong quá trình thực hiện việc thỏa thuận, đàm phán và cam kết thực hiện các nội dung về thực hiện công việc, trả công, các điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của các bên và các nội dung khác khi tham gia quan hệ lao động. Quy định của pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng lao động 1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động Trong quá trình giao kết hợp đồng lao động, các bên “muốn diễn ra một cách bình thường và có hiệu quả cần phải tiến hành theo những nguyên tắc nhất định do pháp luật quy định””. Pháp luật Việt Nam quy định người sử dung lao động và người lao động khi giao kết hợp đồng lao động cần thực hiện theo nguyên tắc “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; Tự đo giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thé và đạo đức xã hội.”5 Khi giao kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động cần đảm bảo các nội dung và quá trình thỏa thuận không được trái với các nguyên tắc này để hợp đồng lao động có hiệu lực. Đối với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực được quy định tại Khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động 2019.
Nguyên tắc này được coi là cơ ban, là cơ sở dé hình thành nên quan hệ lao động và giải quyết các tinh huống phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động. Cũng giống như các nguyên tắc chung trong pháp luật dân sự khi giao kết hợp đồng dân sự nói chung”, các nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động cũng dé cao sự tự nguyện. Tự nguyện được hiểu là các bên khi thỏa thuận tham gia quan hệ lao động mang ý chí chủ quan của bản thân một cách hoàn toàn tự do, tự nguyện về lý trí để đồng ý xác lập quan hệ lao động đó. Đây là biểu hiện của các bên khi giao kết hợp đồng lao động, cho thấy rằng việc giao kết không bị ép buộc bởi bất kỳ một bên thứ ba, không bị giới hạn trong khuôn khổ quy định do bên nào đặt ra.