CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN THIẾT BỊ Y TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán TBYT 1. Khái niệm hợp đồng mua bán TBYT 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa a, Khái niệm hợp đồng Nền kinh tế hàng hóa ra đời kéo theo sự xuất hiện của hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Theo đó, thông qua hoạt động này mà các cá nhân, tổ chức có thể trao đổi cho nhau những lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hằng ngày hoặc nhằm mục đích tích trữ của cải, vật chất. Để đảm bảo cho sự trao đổi này được diễn ra một cách thuận lợi và phù hợp với nhu cầu của các bên thì các cá nhân, tổ chức thường thực hiện việc trao đổi, chuyển giao lợi ích vất chất thông qua việc thỏa thuận dưới hình thức lời nói hoặc chữ viết. Như vậy, hợp đồng ra đời như một tất yếu khách quan. Theo hệ thống pháp luật của các nước phương tây thì khái niệm hợp đồng được hiểu là một văn bản pháp lý ràng buộc, công nhận và điều chỉnh các quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia thỏa thuận, hợp đồng có hiệu lực khi nó tuân thủ các quy định của pháp luật[22], hợp đồng thường liên quan đến việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, tiền bạc hoặc lời hứa sẽ thực hiện hoặc không thực hiện một số hành động nào đó.
Trong thông luật Anh-Mỹ thì để những thỏa thuận được coi là hợp đồng thì đòi hỏi phải bao gồm đầy đủ các yếu tố về: Đề nghị, chấp nhận, ý định tạo lập quan hệ pháp luật, sự hợp pháp về hình thức và nội dung. Hợp đồng ngày nay bắt nguồn từ thuật ngữ “khế ước” trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Theo đó, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặc nhiều bên kết ước. Hai điều kiện cần để tạo ra hợp đồng là người kết ước và chủ đích 13 Luan van của sự ưng thuận[23].
Thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến ở thời kì trước và sau khi giành độc lập dân tộc năm 1945, do ảnh hưởng của thuật ngữ pháp lý trong luật dân sự của Pháp, Điều 653 Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 quy định: “Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai người hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hay đối vật”. Theo Từ điển tiếng Việt thì hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản[12]. Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, hợp đồng được định nghĩa lần đầu tiên tại Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1992 là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng[8]. Trải qua quá trình vận động và phát triển đất nước, để phù hợp với thực tế khách quan thì định nghĩa về hợp đồng cũng được thay đổi và ghi nhận một cách xúc tích, ngắn gọn trong BLDS 2015 như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”[13].
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chế định về hợp đồng không được gói gọn trong một văn bản hợp nhất mà mỗi loại hợp đồng sẽ được quy định trong các luật chuyên ngành khác nhau như: LTM, Luật Xây Dựng, Luật kinh doanh bảo hiểm. Dựa vào những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng như sau: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt một số quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật được thể hiện dưới hình thức lời nói hoặc được lập thành văn bản. b, Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa 14 Luan van Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển vở hay ở dạng vô hình như sức lao động.
Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó[21]. LTM năm 2005 cũng đưa ra khái niệm về hàng hóa tại Khoản 2 Điều 3 như sau: “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai”. Trong công cuộc hội nhập kinh tế của nước ta hiện nay thì yêu cầu về tính pháp lý trong các hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng được đẩy lên hàng đầu. Vì vậy, các chủ thể tham gia giao dịch bắt buộc phải làm quen với việc sử dụng các công cụ pháp lý để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách bình thường, hiệu quả, công cụ pháp lý nhằm đảm bảo hoạt động mua bán hàng hòa ở đây là hợp đồng mua bán hàng hóa.
BLDS năm 2015 có quy định hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán[13]. Theo LTM năm 2005 thì: Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Thông qua những quy định này có thể thấy rằng, về bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng dân sự, hay nói cách khác hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng hợp đồng mua bán tài sản cụ thể. Tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính thương mại, tức là nhằm mục đích sinh lợi nhuận và chủ thể giao kết hợp đồng sẽ các các thương nhân hoặc có một bên là thương nhân.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó 15 Luan van bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán nhằm mục đích kiếm lời, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Khái niệm hợp đồng mua bán TBYT a, Khái niệm TBYT TBYT bao gồm tất cả các dụng cụ, thiết bị kỹ thuật, phương tiện vận chuyển, vật tư chuyên dùng và thông đụng phục vụ cho các hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh cho ngành y tế. Trên thế giới có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về TBYT: Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì TBYT là những dụng cụ, thiết bị, máy móc, thuốc thử, phần mềm… được các nhà sản xuất tạo ra nhằm thực hiện một hoặc nhiều mục đích y tế cụ thể như: Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trị hoặc giảm bớt bệnh tật; Chẩn đoán, theo dõi, điều trị, phục hồi chấn thương; Điều tra, sửa đổi hoặc hỗ trợ hoạt động giải phẫu; Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống; Kiểm soát quá trình thụ thai; Khử trùng các thiết bị y tế… Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ cho rằng TBYT là những dụng cụ, thiết bị, máy móc, phần mềm, thuốc thử trong ống nghiệm hoặc các sản phẩm tương tự bao gồm các thành phần hoặc phụ kiện được công nhận bởi pháp luật Hoa Kỳ, được sử dụng để chẩn đoán bệnh tật hoặc sử dụng trong việc điều trị, chữa bệnh hoặc ngăn ngừa bệnh tật ở người hoặc động vật hoặc có mục đích sử dụng ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc bất kỳ chức năng nào trên cơ thể người hoặc động vật[18]. Nhật Bản định nghĩa TBYT là những dụng cụ và thiết bị được sử dụng để chẩn đoán, chữa bệnh hoặc phòng ngừa bệnh tật ở người hoặc động vật; nhằm mục đích ảnh hướng đến cấu trúc và chức năng của cơ thể người hoặc động vật[24].
16 Luan van Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “trang TBYT” hay “TBYT” được định nghĩa cụ thể và chi tiết tại nghị định số 36/2016/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung tại nghị định số 169/2018/NĐ-CP: 1. Trang TBYT là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau đây: a) Được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu TBYT để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây: – Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương; – Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý; – Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống; – Kiểm soát sự thụ thai; – Khử khuẩn trang TBYT, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm; – Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người. b) Không sử dụng cơ chế dược lý, miễn dịch hoặc chuyển hóa trong hoặc trên cơ thể người hoặc nếu có sử dụng các cơ chế này thì chỉ mang tính chất hỗ trợ để đạt mục đích quy định tại điểm a khoản này[2]. b, Khái niệm hợp đồng mua bán TBYT Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, an toàn lao động, an toàn tính mạng con người ngày càng được tăng cao, kéo theo đó là hàng 17 Luan van loạt các trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám tư nhân mọc ra mới mục đích phục vụ, đáp ứng nhu cầu một cách nhanh nhất, tiện ích nhất, đảm bảo nhất cho người bệnh.
Sự gia tăng của các trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám tư nhân kéo theo hoạt động mua bán TBYT phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh được đẩy cao. Với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm cũng như việc giá trị của một số TBYT rất lớn.