chương 1 của khóa luận cũng khái quát chung vẻ pháp luật của một số quốc gia trên thé giới là pháp luật Pháp va Anh về bôi thường thiệt hai. Từ đó, ta có thé nhận thay một số điểm khác biệt nhất định trong quy định về buộc bôi thường thiệt hai do vi pham hợp đồng thương mại của Việt Nam với pháp luật thể giới. Những van dé được đưa ra nghiên cứu trong chương | đêu là những điều khái quát nhật, cơ bản nhật về chế tài buộc bồi thường thiệt hai trong thương mại. Đây cũng la nên tảng để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn về thực trang pháp luật cũng như thực tiễn thực thi các quy định vệ chế tai này trong phân sau của khóa luận.
17 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VẺ CHẾ TÀI BUỘC BỎI THUONG THIET HẠI DO VI PHAM HỢP DONG THƯƠNG MẠI 2. Quy định pháp luật Việt Nam về chế tài buộc bôi thường thiệt hại do viphạm hợp đồng thương mại 2. Căn cứ phat sinh trách: nhiệm bôi thường thiệt hai Theo quy định tại Điêu 303 LTM năm 2005, trừ những trường hợp miễn trách nhiệm tại Điều 204 của Luật nay, có ba căn cứ và chỉ khi co đủ ba căn cứ nay thì trách nhiém bôi thường thiệt hại mới phat sinh: (1) Có hành vi vi pham hợp đồng, (2) Có thiệt hại thực tế; (3) Hành vi vi phạm hợp đông là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Có hành vi vi phan hop dong Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ đầu tiên và cơ bản làm phát sinh trách nhiệm bôi thường thiệt hai nói riêng cũng như các trách nhiệm khác do vi phạm hợp đông thương mại nói chung.
Theo khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005, vi phạm hợp đông lả việc một bên không thực hiện, thực hiện không day đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật nay. Tint nhất, việc vi phạm hợp đông chỉ xảy ra khi hợp dong thương mai giữa các bên có tính hợp pháp, tức các bên tham gia giao kết hợp đồng một các hoản toàn tự nguyện, hợp đông ghi nhận sự tư do vẻ ý chí trong thỏa thuận của các bên; vả hợp đông đó có hiệu lực pháp luật. Từ đó, hợp đồng làm phát sinh những nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đông, vi vay khi một bên có su lam trái những điều đã cam kết thi bat buôc phải chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm của mình. Ngoài ra, những nghĩa vu bi vi phạm theo quy định tại Điều 3 LTM năm 2005 không chi là những nghĩa vu được các bên thỏa thuân va quy định trong hợp đông thương mại, ma nó còn la những nghĩa vụ được quy định trong pháp luật.
Đây là những điều khoản thường 16, khi giao kết hợp đông, các bên có thé không thöa thuận và không 18 đưa các điều khoản nảy vao trong hợp đồng nhưng vẫn coi là các bên mặc nhiên công nhận những điều khoản đó. Thứ hai, LTM Việt Nam ghi nhận hanh vi vi phạm hợp đồng dưới ba hình thái: (1) không thực hiện; (2) thực hiện không day đủ; (3) thực hiện không đúng nghĩa vụ. Một id việc không thực hiện hợp đông. Không thực hiện hợp đồng la khi một bên không hành đông, ho từ chỗi thực hiện nghĩa vụ của minh đã được ghi nhận trong hợp đông hoặc các nghĩa vụ theo pháp luật.
Hai là thực hiện không đây đủ và thực hiên không đúng nghia vụ. Hành vi thực hiện không day đủ nghĩa vụ là khi bên vi phạm có hành đông, có thực hiện nghĩa vụ tuy nhiên không đây đủ. Việc thực hiện không đúng nghĩa vụ là khi bên vi pham thực hiện sai lệch nghĩa vụ trong hợp đông. Có thé thay, mặc du LTM năm 2005 có sự chia tách song về ban chat, thực hiện không đủ nghĩa vụ hợp đồng là mét dạng của việc thực hiện không đúng nghĩa vu hợp đông.
Như vậy, pháp luật thương mại Việt Nam đã có sự tương đông trong việc xác định khái niệm vi phạm hợp đông so với hệ thông pháp luật trên thé giới, khi sử dung khái niệm vi phạm hợp đông dé chi mọi hành vi không thực hiện đúng hợp déngTM, ké cả việc không thực hiện một phan hoặc toản bộ, chậm thực hiện, thực hiện không du. Trên thực tế, các hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đông thương mại thường vô cùng da dạng, tùy thuộc vao từng loại hợp đồng, mục dich, đồi tượng hợp đông,. Các hành vi vi phạm phô biến có thé kế đến như vi phạm về chat lượng, sô lượng hang hóa, dich vụ đã thỏa thuận, vi phạm về nghĩa vụ giao hàng, vi phạm về thời hạn thực hiên hợp đông, vi pham nghĩa vụ thanh toán, Riêng về van dé boi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, LTM năm 2005 có quy định cu thé tại Điều 306 như sau: “Trudng hợp bên vi pham *+ Bai Thị Thanh Hằng (2018), Bồi thường thiệt hai do vị phạm hợp đồng, Luận in Tiên sĩ tật học, Trưởng Daihoc Luật Hà Nội tr ó6. 19 hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay châm thanh toán thủ lao địch vụ và các chi phí hợp lý: khác thì bên bị vi pham hop đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền châm trả đötheo Idi suất no quá han trung binh trên thi trường tai thời diém thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hop pháp luật cô thôa thuận khác hoặc pháp luật có quy dinh khác ”.
Như vậy, nêu các bên có thỏa thuận về mức lãi lãi trên số tiên chậm tra thi sẽ áp dụng mức lãi nay, tuy nhiên cần lưu ý mức lãi này không được vượt quá mức tôi đa theo Điều 357 BLDS năm 2015, tức không quá 20%/ năm tính trên số tiên chậm thanh toán Trường hợp các bên chưa có thỏa thuận thì sẽ áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thi trường tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên, LTM năm 2005 cũng không nêu rõ phương pháp tính mức lãi suất nợ quá hạn trung bình nay. Theo hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hai đồng tham phán Tòa án nhân dân tdi cao, Tòa án sé dựa trên mức lãi suất của ít nhất ba ngân hàng thương mại có trụ sở, chỉ nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành pho trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có tru sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thâm) để quyết định mức lãi suất châm trả. Tuy nhiên, việc phải lựa chọn những ngân hang khác nhau có thé dẫn dén sư chênh lệch về lãi suất trung bình, điều nay có thé dẫn đền trường hợp các bên không đồng tình với mức lãi suất trung bình nay.
Có thiệt hai thực tê Với tính chat 1a một chế tài thương mại nhằm bù đắp những tôn that cho bên bị vi phạm, việc có thiệt hại thực tế lả căn cứ quan trong để xác định việc có phat sinh trách nhiệm bôi thường thiệt hai do vi phạm hợp dong thương mai hay không. Do đó, có thé nói néu không có thiệt hại thực tế ma chỉ có hành vi vi phạm thì không đặt ra vần dé bôi thường thiệt hại. Khoản 2 Điều 302 TLM năm 2005 quy định những thiệt hại vat chat được bôi thường bao gém (1) giá trị tốn that thực té, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra; (2) khoản lợi trực tiếp ma bên bi vi phạm đáng lế được hưởng nêu không có hành vi vi phạm. Thứ nhất, gia tri ton thật thực tế, trực tiếp ma bên bị vi phạm phải chiu do bên vi phạm gây ra.
Co thé thay, LTM Việt Nam nhân mạnh tinh thực tế va trực tiếp của thiệt hại song không có sự giải thích rõ rang. Theo tác giả, thiệt hại thực tế là những thiệt hai vật chat đã xảy ra trên thực tế và có thé quy đôi thành tiền, có thể tính bằng con số cụ thể. Tính trực tiếp của thiệt hai là khi hảnh vi vi pham hợp đồng thương mại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Mặc dù LTM năm 2005 không quy định rõ về những thiệt hại được coi 1a thực tế, trực tiếp nhưng một số nhóm thiệt hai sau đây có thé được bôi thường: - Tôn thất về tài sản: là việc tải sản như hang hóa bị hư hồng, mat mát, trong thực tế có thé là hàng hóa bi giao thiểu so với thỏa thuận, chat lượng hàng hóa bị suy giảm so với hợp đồng do hành vi vi phạm, - Chi phí bên bị vi pham phải bö ra để ngăn chăn va hạn chế thiệt hại do hanh vi vi phạm hợp dong: theo BLDS năm 2015, các chi phí nảy phải có tinh hợp lý, và bên bị vi phạm phải chứng minh được minh đã sử dụng chi phi hợp lý, cân thiết nay để ngăn chăn, hạn chế tôn that.
LTM năm 2005 cũng đặt ra cho bên bị vi phạm nghĩa vu hạn chê thiệt hai ngay khi biết về hành vi vi phạm thì mới có thể được bồi thường toàn bô giá trị tn that. - Chi phi dé thực hiên nghĩa vụ với bên thứ ba: đây là tiền bên bị vi pham buộc phải trả cho bên thứ ba do thực hiện nghĩa vụ phạt vi phạm hoặc bôi thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc xác định thiệt hai đến từ giao dịch với bên thứ ba có tính thực tế, trực tiếp hay không van còn nhiều bat cập Trong thực tiễn xét xử, Tòa án thường đánh giá tính trực tiếp của loại tôn that này dựa trên việc bên vi phạm co biết về giao dich giữa bên bi vi phạm và bên thứ ba hay không. So với quy định cũ tại Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1080, quy định tại LTM năm 2005 đã có sự tiền bộ hơn.
Cu thể, thay vì sử dụng phương pháp liệt kê như Điều 20 Pháp Lệnh hợp đông kinh tế, L TÌM năm 2005 sử dụng thuật ngữ “gia tri tôn that thực tế, trực tiếp” với mục đích nhân mạnh tính chat thực tế và trực tiếp của loại thiệt hại nảy, phân biệt được nó với khoản lợi đáng lế được hưởng. Đông thời, việc sử dụng thuật ngữ “giá trị tôn thất thực tế, trực tiếp” cũng bao quát hơn việc liệt kê như Pháp lénh hợp đông kinh tê năm 1989, hạn chế tình trạng bö sót những khoản thiệt hại rat đa dạng trên thực tiễn. Như vay, LTM năm 2005 nhân mạnh tính thực tế, trực tiếp của thiệt hại. Do đó, những thiệt hai bị coi 1a gián tiếp sẽ không được bôi thường.