CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm hủy bỏ hợp đồng Hợp đồng là hình thức pháp lý và là phương tiện để biến các dự định hoặc kế hoạch kinh doanh trở thành hiện thực. Về nguyên tắc, hợp đồng được giao kết hợp pháp sẽ có giá trị pháp lý ràng buộc các bên. Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Trên cơ sở pháp luật khi giao kết hợp đồng, các bên tham gia phải tuân thủ các điều kiện đã cam kết nên hợp đồng chịu sự điều chỉnh một cách chặt chẽ của pháp luật. Hợp đồng theo nghĩa chủ quan không phải là pháp luật, nhưng sau khi được thành lập hợp pháp thì hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực và có giá trị ràng buộc đối với các bên giao kết hợp đồng. Các bên trong giao kết buộc phải thực hiện tất cả các quy định của hợp đồng. Việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết sẽ dẫn đến chế tài bất lợi cho chủ thể vi phạm nghĩa vụ.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm hay nói cách khác là bên bị thiệt hại, thông thường pháp luật các nước luôn có những quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của bên vi phạm. Bên cạnh đó chế tài đối với bên bi phạm cũng được quy định khá nghiêm ngặt trong các văn bản pháp lý quốc tế. Chế tài luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm, do đó chế tài vừa có tính chất răn đe, vừa có tính chất trừng phạt. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học không quy định thế nào là “hủy bỏ hợp đồng” mà thay vào quy định “hợp đồng bị hủy bỏ là hợp đồng được giao kết hợp pháp nhưng bị coi là không có hiệu lực thực hiện nữa”.
Hủy hợp đồng là một trong những chế tài được quy định trong Bộ luật dân sự của Việt Nam nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên không phải mọi quyết định hủy bỏ hợp đồng cũng đều là áp dụng chế tài. Về nguyên tắc, hợp đồng có thể bị hủy bỏ nếu các bên cùng thống nhất hủy bỏ việc thực hiện nghĩa vụ giữa các bên trong trường hợp việc thực hiện không còn phù hợp với lợi ích 5 của các bên. Trong trường hợp này, hủy hợp đồng không phải là một quyết định có tính chất trừng phạt.
Mặc dù trong BLDS 2015 không quy định rõ thế nào là chế tài hủy hợp đồng, nhưng có thể hiểu một cách khái quát rằng chế tài hủy hợp đồng là khi một bên vi phạm những thoả thuận được nêu trong hợp đồng thì vi phạm đó được xem là căn cứ để chấm dứt thực hiện nghĩa vụ giữa các bên hoặc do pháp luật quy định. Nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng là các vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vì thế, hợp đồng bị hủy bỏ phải là các hợp đồng được giao kết hợp pháp và đang trong quá trình thực hiện. Chế tài hủy hợp đồng được quy định tại Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo đó, “Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây: a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thoả thuận; b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; c) Trường hợp khác do luật quy định ”. Ngoài trường hợp hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại như BLDS 2005 đã đề cập, BLDS 2015 đã bổ sung trường hợp một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng và trường hợp khác do luật quy định theo Điểm c Khoản 1 Điều 423 BLDS 2015. Ở đây, trường hợp khác do luật định là các trường hợp mà Bộ luật Dân sự hay luật khác có liên quan có quy định việc hủy bỏ hợp đồng.
Việc hủy bỏ trong những trường hợp này có thể xảy ra ngay cả khi không có sự vi phạm của bất cứ bên nào trong hợp đồng mà có thể do các bên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc vì lí do khách quan dẫn đến mục đích giao kết hợp đồng không thể đạt được [25]. Căn cứ vào các phân tích cũng như quy định pháp luật vừa nêu cho thấy hủy bỏ hợp đồng là một quy định được pháp luật công nhận. Khi một bên vi phạm các điều khoản hợp pháp của hợp đồng thì bên còn lại được quyền hủy bỏ hợp 6 đồng. Nói rõ hơn, sau khi các bên trong hợp đồng đã giao kết hợp đồng hợp pháp, các điều khoản, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên đã được thiết lập mà có một bên vi phạm một trong những điều khoản đó thì bên còn lại của hợp đồng được quyền hủy bỏ hợp đồng sau khi thông báo cho bên vi phạm biết.
Điều kiện hủy bỏ hợp đồng 1. Chế tài hủy bỏ hợp đồng Trong hoạt động kinh doanh, thương mại, chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại theo tinh thần của LTM 2005 tại Điều 292 là biện pháp pháp lý mà bên bị vi phạm, toà án, hay trọng tài áp dụng đối với bên vi phạm do việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật liên quan. Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được áp dụng với mọi hành vi vi phạm pháp luật, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại chỉ được áp dụng đối với những hành vi vi phạm những điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận, các bên được tự nguyện giao kết và thỏa thuận những điều khoản trong hợp đồng để phù hợp với mục đích kinh doanh của mình.
Chính vì vậy, khi hợp đồng phát sinh hiệu lực các bên sẽ phải ràng buộc với nhau về các quyền và nghĩa vụ đã cam kết, mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay còn gọi là các chế tài do vi phạm hợp đồng. Chế tài vi phạm hợp đồng được xem là hậu quả pháp lý bất lợi được pháp luật quy định mà bên vi phạm hợp đồng phải chấp nhận và bắt buộc thực hiện vì quyền và lợi ích của bên bị thiệt hại. Quy định về chế tài này có ý nghĩa trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng, nhằm ngăn ngừa sự vi phạm của các bên tham gia hợp đồng, giúp các bên ý thức về quyền hạn và trách nhiệm của mình khi ký kết. Trên nền tảng ý thức và trách nhiệm này thì các quan hệ dân sự mới tồn tại ổn định góp phần làm cho kinh tế hàng hóa và thương mại của các nước ngày càng phát triển bền vững.
7 Theo quy định tại Điều 292 LTM 2005, các loại chế tài trong thương mại gồm: “(1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (2) Phạt vi phạm; (3) Buộc bồi thường thiệt hại; (4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (5) Đình chỉ thực hiện hợp đồng; (6)Hủy bỏ hợp đồng và (7) Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế”. Hủy bỏ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả hoặc một phần các nghĩa vụ hợp đồng. Nội dung chi tiết về hủy bỏ hợp đồng sẽ được trình bày trong các phần sau. Bộ luật Dân sự 2015 không quy định cụ thể về khái niệm hủy bỏ hợp đồng, còn LTM 2005 thì tại Điều 312, pháp luật không nêu khái niệm riêng rẽ mà quy định thông qua việc phân biệt hủy bỏ toàn bộ và hủy bỏ một phần hợp đồng: “ 2.
Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng; 3. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Mục đích từ việc phân loại như trên là nhằm đảm bảo được bản chất của chế tài hủy bỏ hợp đồng, đảm bảo ý nguyện của các bên trong việc xác định là hủy bỏ một phần hợp đồng và tiếp tục thực hiện phần còn lại hay hủy bỏ toàn bộ hợp đồng. Việc ghi nhận hình thức hủy bỏ một phần hợp đồng trong luật thực định Việt Nam là một trong những bước tiến mới trong việc điều chỉnh pháp luật quốc gia ngày càng tương thích với pháp luật kinh doanh quốc tế, tạo một hành lang pháp lý cho các bên trong việc giải phóng một phần nghĩa vụ mà các bên không phải thực hiện khi xảy ra vi phạm, phần còn lại không bị hủy bỏ vẫn có hiệu lực và buộc các bên vẫn tiếp tục thực hiện.
Cùng điều chỉnh về vấn đề này, Điều 51 CISG quy định: “Nếu người bản chỉ giao một phần hàng hóa hoặc nếu chỉ một phần hàng hóa đã giao phù hợp 8 với hợp đồng thì các Điều 46 đến 50 sẽ được áp dụng đối với phần hàng hóa thiếu hoặc phần hàng không phù hợp với hợp đồng” và “Người mua chỉ được tuyên bố hủy bỏ toàn bộ hợp đồng, nếu việc không thực hiện hợp đồng hoặc một phần hàng giao không phù hợp với hợp đồng cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng”. Ví dụ: Công ty A và Công ty B ký hợp đồng mua bán sắt (giả thiết là các quốc gia nơi mà hai pháp nhân đặt trụ sở đều là thành viên của CISG). Trong đó, Công ty A là bên cung cấp sắt theo đơn đặt hàng của Công ty B. Theo yêu cầu từ Công ty B (giả thiết là Công ty A cũng đã có thư phúc đáp cam kết đảm bảo số lượng và tiêu chuẩn do Công ty B yêu cầu), Công ty A đã giao đủ 09 tấn sắt vào ngày 03/4/2013 (đợt 1) và sẽ phải giao đủ 10 tấn sắt với tiêu chuẩn không thay đổi như đợt 1 vào ngày 05/4/2013 (đợt 2).
Tuy nhiên, đến ngày 05/4/2013, ngày giao đợt 2, Công ty A mới giao cho Công ty B được 02 tấn so với đơn đặt hàng.