Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, mua bán hàng hóa (MBHH) là hoạt động thương mại phổ biến nhất do thương nhân thực hiện nhằm mục đích sinh lợi. Chi phí và lợi nhuận phát sinh từ các giao dịch mua bán hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí và doanh thu hoạt động kinh doanh. Hình thức pháp lý ghi nhận và điều chỉnh quan hệ này là hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH). Tại Việt Nam, chế định HĐMBHH được quy định tập trung trong Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005), Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 cùng các văn bản chuyên ngành liên quan.

Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế số và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý mới, phức tạp, vượt ra ngoài khuôn khổ truyền thống. LTM 2005 dù đã qua sửa đổi, bổ sung vào các năm 2017 và 2019 nhưng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập trong thực tiễn áp dụng (như quy định về hình thức hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên), đồng thời còn tồn tại điểm chưa đồng bộ, chưa tương thích hoàn toàn với BLDS 2015 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam mới tham gia. Đa số các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào một số khía cạnh riêng lẻ hoặc nghiên cứu trên nền tảng văn bản cũ, chưa phản ánh toàn diện thực tiễn thi hành trong bối cảnh kinh tế số. Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả Lê Hồng Nhung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam hiện nay".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về HĐMBHH tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 03 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về HĐMBHH và pháp luật về HĐMBHH;
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về HĐMBHH ở Việt Nam;
  3. Kiến nghị một số nhóm giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về HĐMBHH ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về HĐMBHH và thực tiễn giao kết, thực hiện, chấm dứt HĐMBHH trong giai đoạn hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Tập trung phân tích các quy định tại LTM 2005 và BLDS 2015; so sánh, đối chiếu với Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), các điều khoản Incoterms 2010 và Bộ nguyên tắc UNIDROIT.
    • Về thời gian: Phân tích hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về HĐMBHH từ năm 2005 đến nay; khảo sát, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật trong giai đoạn từ năm 2020 đến nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quy định pháp luật thực định và học thuyết pháp lý về hợp đồng thương mại:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Hoạt động thương mại (Khoản 1 Điều 3 LTM 2005), mua bán hàng hóa (Khoản 8 Điều 3 LTM 2005), hợp đồng dân sự (Điều 385 BLDS 2015), chủ thể thương nhân (Khoản 1 Điều 6 LTM 2005) và đối tượng hàng hóa (Khoản 2 Điều 3 LTM 2005).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ: BLDS 2015, LTM 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019), Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP và 70 án lệ đã được Tòa án nhân dân tối cao công bố (tiêu biểu như Án lệ số 09/2016/AL về lãi suất tín dụng và Án lệ số 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán thư tín dụng L/C).
  • Điều ước và tập quán quốc tế: Công ước Viên 1980 (CISG), Công ước Geneva về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường bộ, Quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (UCP), Incoterms 2010 và Bộ nguyên tắc UNIDROIT.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai xuyên suốt theo từng nội dung:

  • Phương pháp phân tích và hệ thống hóa: Sử dụng song song xuyên suốt khóa luận, đặc biệt tại Chương 1, nhằm làm sáng tỏ các khái niệm lý luận, bản chất pháp lý, đặc điểm, nguyên tắc và nguồn luật điều chỉnh HĐMBHH.
  • Phương pháp mô tả, so sánh và đánh giá: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để đối chiếu các điều khoản tương ứng giữa LTM 2005, BLDS 2015 và CISG 1980, chỉ ra các xung đột quy phạm và bất cập thực tiễn.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại, khai thác số liệu và thông tin từ các bản án, ấn phẩm, nghiên cứu chuyên ngành nhằm đánh giá tình hình thực thi.
  • Phương pháp tổng hợp: Tập trung tại Chương 3 nhằm liên kết các phát hiện hạn chế để xây dựng nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao năng lực thực thi.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các giáo trình chuyên khảo của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; các công trình nghiên cứu trong nước (Hoàng Lê Cẩm Hằng - 2021, Nguyễn Thúy Hằng - 2021, Trần Viết Long và Bùi Thị Quỳnh Trang - 2021, Ngô Thị Kiều Trang - 2014, Lê Minh Hùng - 2010) và tài liệu quốc tế (Djakhongir Saidov - 2019, Prince Obisi-Korang - 2023).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về HĐMBHH và cấu trúc pháp luật điều chỉnh:

  • Khái niệm và đặc điểm: HĐMBHH là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa. Bốn đặc trưng cơ bản gồm:
    • Chủ thể: Chủ yếu là thương nhân (Khoản 1 Điều 6 LTM 2005: tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh). Tác giả so sánh với pháp luật Hoa Kỳ, Đức, Pháp vốn công nhận "thương nhân thực tế" mà không bắt buộc phải có đăng ký kinh doanh.
    • Đối tượng: Hàng hóa hữu hình, gồm tất cả các loại động sản (kể cả động sản hình thành trong tương lai) và những vật gắn liền với đất đai (Khoản 2 Điều 3 LTM 2005). Tiền và giấy tờ có giá không được coi là hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 2005.
    • Mục đích xác lập: Chủ yếu hướng đến mục đích sinh lợi của thương nhân (phân biệt với hợp đồng mua bán tài sản thuần túy trong dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng).
    • Hình thức: Được xác lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể (Điều 24 LTM 2005). Các hình thức có giá trị tương đương văn bản gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15 Điều 3 LTM 2005). Riêng HĐMBHH quốc tế bắt buộc phải lập thành văn bản hoặc hình thức tương đương (Khoản 2 Điều 27 LTM 2005; tương thích Điều 13 CISG).
  • Phân loại HĐMBHH: Dựa trên phương thức giao dịch (trực tiếp đàm phán hoặc gián tiếp thông qua sở giao dịch hàng hóa, đại diện, ủy thác, đại lý); dựa trên phạm vi quan hệ (HĐMBHH trong nước và HĐMBHH quốc tế có yếu tố nước ngoài).
  • Nguyên tắc giao kết và thực hiện: Tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực; thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ; hợp tác cùng có lợi; không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba và Nhà nước.
  • Nguồn luật và nội dung điều chỉnh: Bao gồm văn bản quy phạm pháp luật (BLDS 2015, LTM 2005, luật chuyên ngành), điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế (Incoterms, UCP) và án lệ. Pháp luật quy định chi tiết về các bước đề nghị/chấp nhận giao kết, điều kiện có hiệu lực (Điều 117 BLDS 2015), nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, 07 hình thức chế tài thương mại (Điều 292 LTM 2005) và 04 phương thức giải quyết tranh chấp (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án theo Điều 317 LTM 2005).

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá hiệu quả thi hành trong thực tế:

  • Quy định về giao kết và hiệu lực hợp đồng:
    • Đề nghị giao kết: Phân tích Điều 386 BLDS 2015 đối chiếu với Điều 14 CISG và UNIDROIT về mức độ xác định nội dung chủ yếu; phân tích các quy định về thời điểm có hiệu lực (Điều 388), thay đổi, rút lại (Điều 389), hủy bỏ (Điều 390) và chấm dứt đề nghị giao kết (Điều 391 BLDS 2015).
    • Chấp nhận đề nghị: Bản chất pháp lý, thời hạn trả lời (Điều 394 BLDS 2015); quy tắc im lặng không mặc nhiên cấu thành sự chấp thuận.
    • Hiệu lực hợp đồng: Phân tích điều kiện năng lực chủ thể (Điều 16, 19, 86 BLDS 2015), sự tự nguyện của ý chí, tính hợp pháp của mục đích và nội dung, cùng tính tuân thủ về mặt hình thức (Điều 117, 401 BLDS 2015).
  • Quy định về thực hiện hợp đồng và các nghĩa vụ cơ bản:
    • Thời hạn và địa điểm giao hàng: Phân tích Điều 35 và 37 LTM 2005. Tác giả phát hiện sự khác biệt lớn giữa LTM 2005 và BLDS 2015: Trong khi Điều 435 BLDS 2015 quy định địa điểm giao động sản mặc định tại nơi cư trú/trụ sở bên mua (bất lợi cho bên bán), thì Điều 35 LTM 2005 quy định giao tại kho chứa, xưởng sản xuất hoặc nơi kinh doanh của bên bán (bất lợi cho bên mua).
    • Hàng hóa không phù hợp và quyền khắc phục: Tiêu chí xác định hàng không phù hợp theo Điều 39 LTM 2005; trách nhiệm của bên bán đối với khiếm khuyết trước và sau thời điểm chuyển rủi ro (Điều 40); quyền giao bù, thay thế hàng của bên bán trước hạn (Điều 41).
    • Kiểm tra hàng hóa: Quy định tại Điều 44 LTM 2005 (tiếp thu từ CISG). Kiểm tra hàng không phải nghĩa vụ luật định bắt buộc trừ khi có thỏa thuận. Nếu bên mua không kiểm tra hoặc không thông báo khiếm khuyết trong thời hạn hợp lý, bên mua sẽ mất quyền khiếu nại (Khoản 4 Điều 44), trừ trường hợp khiếm khuyết ẩn tì mà kiểm tra thông thường không thấy và bên bán đã biết mà không thông báo (Khoản 5 Điều 44).
    • Nghĩa vụ bảo hành: Quy định tại Điều 49 LTM 2005 và Điều 20 Luật Kinh doanh bất động sản 2014. Thời hạn khiếu nại đối với hàng hóa có bảo hành là 03 tháng kể từ ngày hết hạn bảo hành (Khoản 3 Điều 318 LTM 2005).
    • Nghĩa vụ thanh toán và bảo đảm quyền sở hữu: Nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hợp pháp (Điều 45); địa điểm, thời hạn thanh toán (Điều 50, 52, 54, 55); quyền tạm ngừng thanh toán của bên mua khi có bằng chứng lừa dối, hàng bị tranh chấp hoặc giao không phù hợp (Điều 51 LTM 2005).
  • Quy chế chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa (Điều 57 - 61 LTM 2005):
Trường hợp chuyển rủi ro Điều khoản LTM 2005 Thời điểm chuyển giao rủi ro sang bên mua
Có địa điểm giao hàng xác định Điều 57 Khi hàng hóa đã được giao cho bên mua hoặc người được ủy quyền tại địa điểm đó
Không có địa điểm giao hàng xác định (có vận chuyển) Điều 58 Khi hàng hóa đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên
Hàng do người nhận để giao nắm giữ (không phải người vận chuyển) Điều 59 Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hóa
Hàng hóa đang trên đường vận chuyển Điều 60 Kể từ thời điểm giao kết hợp đồng
Các trường hợp khác Điều 61 Kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm nghĩa vụ nhận hàng
  • Trách nhiệm pháp lý và chế tài do vi phạm: Phân tích 07 chế tài thương mại tại Điều 292 LTM 2005 (buộc thực hiện đúng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp khác). Khái niệm "vi phạm cơ bản" tại Khoản 13 Điều 3 LTM 2005 (tiếp thu từ CISG) là căn cứ cốt lõi để áp dụng chế tài tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng.
  • Đánh giá thực tiễn thực thi: Khẳng định kết quả tích cực trong việc tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi các bên; đồng thời chỉ rõ hạn chế về việc thiếu quy định điều chỉnh thương mại điện tử, bất cập về xác định tư cách thương nhân thực tế, xung đột thẩm quyền và nhận thức áp dụng án lệ còn hạn chế.

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 3 đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính định hướng và thực tiễn:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, bổ sung LTM 2005 nhằm loại bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo với BLDS 2015 (như thống nhất quy định về địa điểm giao hàng mặc định, hài hòa các khái niệm về tài sản và hàng hóa).
    • Tương thích hóa các quy định của LTM 2005 với CISG 1980 và thông lệ quốc tế, đặc biệt là nội luật hóa rõ ràng hơn tiêu chí xác định "vi phạm cơ bản", quy tắc chuyển rủi ro và các trường hợp miễn trách nhiệm.
    • Bổ sung hành lang pháp lý điều chỉnh các giao dịch mua bán hàng hóa trong môi trường kỹ thuật số, giao kết hợp đồng tự động, hợp đồng điện tử thông minh.
    • Nghiên cứu cơ chế công nhận "thương nhân thực tế" phù hợp với thông lệ pháp luật kinh tế quốc tế để kiểm soát các chủ thể kinh doanh thường xuyên nhưng chưa đăng ký kinh doanh.
  • Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Tăng cường tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức pháp lý và kỹ năng soạn thảo, quản trị rủi ro hợp đồng cho các doanh nghiệp, thương nhân.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán, Trọng tài viên trong việc giải quyết các tranh chấp HĐMBHH có tính chất phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài.
    • Mở rộng lựa chọn, tổng kết thực tiễn và phát triển thêm các án lệ chuyên sâu về thương mại nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật xét xử.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp và phân tích hệ thống quy phạm thực định:

  • Kết quả nghiên cứu:
    • Hệ thống hóa toàn diện các quy định điều chỉnh HĐMBHH từ BLDS 2015, LTM 2005 đến các nguồn luật quốc tế (CISG, Incoterms, UNIDROIT) và 70 án lệ TANDTC đã ban hành tính đến thời điểm nghiên cứu.
    • Phân tích và làm rõ những điểm bất cập, không đồng bộ giữa BLDS 2015 và LTM 2005 (tiêu biểu là sự đối lập về địa điểm giao hàng tại Điều 435 BLDS 2015 và Điều 35 LTM 2005; sự phân định thời điểm chuyển rủi ro độc lập với chuyển quyền sở hữu).
    • Luận giải chi tiết cơ chế vận hành của 07 hình thức chế tài thương mại (Điều 292 LTM 2005) gắn liền với điều kiện cấu thành "vi phạm cơ bản" theo Khoản 13 Điều 3 LTM 2005.
  • Đóng góp của đề tài: Tác giả tự nêu đóng góp mới của khóa luận so với các nghiên cứu trước đây: Không giới hạn trong việc phân tích văn bản pháp luật tĩnh hoặc các khía cạnh đơn lẻ, công trình đã cập nhật các vấn đề pháp lý mới phát sinh trong nền kinh tế số, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn từ năm 2020 đến nay và đặt pháp luật HĐMBHH Việt Nam trong mối quan hệ so sánh trực tiếp với CISG 1980 và chuẩn mực thương mại quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp, đề tài tập trung chủ yếu vào pháp luật thực định Việt Nam (LTM 2005, BLDS 2015) và thực tiễn thi hành giai đoạn 2020 đến nay. Việc so sánh pháp luật nước ngoài mới dừng lại ở Công ước Viên 1980 (CISG) và một số tập quán phổ biến (Incoterms 2010, UNIDROIT) mà chưa đi sâu nghiên cứu pháp luật quốc gia chi tiết của từng đối tác thương mại lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa xuyên biên giới trên các nền tảng thương mại điện tử đa quốc gia và đánh giá tác động của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) đối với việc hoàn thiện chế định hợp đồng thương mại tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Thương mại quốc tế cần tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng về lý luận và thực trạng HĐMBHH.
  • Chuyên viên pháp chế doanh nghiệp và luật sư: Tham khảo bảng so sánh các trường hợp chuyển giao rủi ro (Điều 57 - 61 LTM 2005), phân tích thời hạn khiếu nại hàng hóa có bảo hành (Điều 318 LTM 2005) và các quy định về kiểm tra hàng hóa (Điều 44 LTM 2005) để soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, phòng ngừa tranh chấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "thương nhân" theo Luật Thương mại 2005 có điểm gì khác biệt so với pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp và Đức?
Theo Khoản 1 Điều 6 LTM 2005, thương nhân tại Việt Nam bắt buộc phải là tổ chức kinh tế hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và phải có đăng ký kinh doanh. Trong khi đó, pháp luật Hoa Kỳ, Đức, Pháp công nhận "thương nhân thực tế" – tức là người thực hiện hành vi thương mại thường xuyên như một nghề nghiệp mà không bắt buộc phải có đăng ký kinh doanh.

2. Điểm mâu thuẫn giữa Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 về địa điểm giao hàng mặc định (khi không có thỏa thuận) là gì?
Theo Điều 435 BLDS 2015, đối với tài sản là động sản, nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao hàng là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua (thiết kế theo hướng bảo vệ bên mua). Ngược lại, theo Điều 35 LTM 2005, nếu không có thỏa thuận và hợp đồng không có vận chuyển, địa điểm giao hàng là kho chứa hàng, xưởng sản xuất hoặc địa điểm kinh doanh của bên bán (thiết kế theo hướng bảo vệ bên bán).

3. Khái niệm "vi phạm cơ bản" được quy định tại điều khoản nào của Luật Thương mại 2005 và có ý nghĩa gì?
Khái niệm "vi phạm cơ bản" được ghi nhận tại Khoản 13 Điều 3 LTM 2005 (tiếp thu từ CISG), được định nghĩa là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Đây là căn cứ pháp lý bắt buộc để áp dụng các chế tài nghiêm khắc như tạm ngừng thực hiện, đình chỉ thực hiện hoặc hủy bỏ hợp đồng.

4. Thời hạn khiếu nại đối với hàng hóa có thỏa thuận bảo hành được tính như thế nào theo Luật Thương mại 2005?
Theo Khoản 3 Điều 318 LTM 2005, trường hợp hàng hóa có bảo hành thì thời hạn khiếu nại về số lượng, chất lượng hoặc việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng là 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành.

5. Nếu bên mua không tiến hành kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì hậu quả pháp lý là gì?
Theo Khoản 3 Điều 44 LTM 2005, nếu bên mua hoặc đại diện bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo đúng quy định của hợp đồng. Nếu bên mua đã kiểm tra nhưng không thông báo về khiếm khuyết trong thời hạn hợp lý, bên mua sẽ mất quyền khiếu nại về khiếm khuyết đó (Khoản 4 Điều 44).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Hồng Nhung đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận, nguồn luật điều chỉnh và các nội dung cốt lõi của chế định hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam. Công trình chỉ ra những điểm bất cập, thiếu đồng bộ giữa Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2015 và các chuẩn mực quốc tế như CISG 1980 trong thực tiễn thực thi giai đoạn từ năm 2020 đến nay. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế.