CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm hợp đồng thương mại 1.1 Kinh tế thị trường và vai trò của hợp đồng thương mại Trong suốt một thời gian dài nền kinh tế nước ta được quản lý năng về mặt hiện vật. Phương thức trao đổi phân phối được kế hoạch hoá một cách chi tiết và tập trung cứng nhắc làm mất đi tính năng động của nền kinh tế. Nay nền kinh tế nước ta đã và đang phát triển thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sản xuất hàng hoá là sản xuất trao đổi trên thị trường thông qua giá trị.
Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế là người sản xuất hàng hoá, sản xuất kinh doanh nhằm mục đích trao đổi để kiếm lời. Chính thị trường sẽ là nơi thừa nhận, định giá kết quả lao động của các doanh nghiệp chứ không phải chỉ Nhà nước thừa nhận đánh giá như trong cơ chế cũ trước đây nữa. Trước đây không phải ở nước ta không có thị trường. Chúng ta có “thị trường nhân tạo”, thị trường của nền kinh tế hiện vật được kế hoạch hoá.
Trong thị trường kiểu ấy quan hệ trao đổi không được xác định trên cơ sở ngang giá (luôn có sự thua thiệt hoặc của người sản xuất hoặc của người tiêu dùng), sự tác động của tiêu dùng đến sản xuất hầu như không đáng kể và không có động lực cho sản xuất phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm. Quan hệ thị trường đích thực là quan hệ trong đó cả người sản xuất và người tiêu dùng đều nhằm đạt được lợi ích nhất định cho mình, do vậy cần lấy sự ngang giá làm tiêu chuẩn. Kinh tế thị trường không thể thiếu được vai trò của hợp đồng. Hợp đồng thương mại là cơ sở, căn cứ để xác định nhu cầu, xây dựng các kế hoạch.
Hợp đồng thương mại cũng chính là bảo đảm về mặt pháp lý cho các doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 4 Hợp đồng thương mại là sự thoả thuận có tác dụng chuyển hoá các quan hệ kinh tế khách quan thành các quan hệ pháp luật cụ thể. Chính ở điểm này chúng ta thấy rõ hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý để thực hiện các quan hệ kinh tế thị trường.2 Khái niệm hợp đồng thương mại Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, đình chỉ quyền và nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể. Hợp đồng thương mại là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc lời nói, tài liệu giao dịch giữa các bên giao kết về việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Trong Điều 3, Luật thương mại 2005 có nêu: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Do vậy, có thể định nghĩa Hợp đồng thương mại là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc lời nói, tài liệu giao dịch giữa các bên giao kết về việc thực hiện các hoạt động thương mại. Ký kết, thực hiện hợp đồng thương mại 1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại - Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại (Điều 10 Luật thương mại 2005). Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại (Điều 10 Luật thương mại 2005). Nguyên tắc này thể hiện ở hai khía cạnh sau: + Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó. 5 + Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.
- Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên (Điều 12 Luật thương mại 2005). Các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên, đó là những thói quen mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật. - Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại (Điều 13 Luật thương mại 2005). Các bên giao kết hợp đồng có thể áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật thương mại và trong Bộ luật dân sự.
- Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14 Luật thương mại 2005). Nguyên tắc này thể hiện ở hai khía cạnh sau: + Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó. + Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh. - Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại (Điều 15 Luật thương mại 2005).
Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản. Hợp đồng mua bán hàng hoá- công cụ chủ yếu trong hoạt động thương mại. Trong hoạt động thương mại, việc mua bán hàng hoá là hoạt động chủ yếu và có vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của một doanh nghiệp. Do vậy, trong phần này trình bày cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hoá.
Khái quát về mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán hàng hoá a. Ý nghĩa của việc mua bán hàng hoá. Ở nước ta quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh các quan hệ thương mại vì mục đích lợi nhuận và do vậy một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động mang tính chất kinh doanh thương mại đó. Trước khi có Luật thương mại năm 1997, các quan hệ mua, bán, giao dịch chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy định của luật dân sự và luật kinh tế.
Ngày 10 tháng 5 năm 1997, Quốc hội đã thông qua Luật thương mại 1997 (sau đó được sửa đổi và thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005- sau đây gọi là Luật thương mại 2005). Một trong những nội dung quan trọng của Luật thương mại đó là chế định mua bán hàng hoá. Sở dĩ, chế định này có vị trí quan trọng như vậy trong Luật thương mại là vì hoạt động mua bán hàng hoá có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế xã hội. Cụ thể: Thứ nhất, hoạt động mua bán hàng hoá là một quá trình gồm nhiều khâu, là hoạt động thực tế của cuộc sống và được nhiều chủ thể thực hiện.
Trong cuộc sống thường nhật, cho dù các chủ thể có là thương nhân hay không, để đáp ứng các nhu cầu của mình, vẫn thường xuyên thực hiện các hành vi mua bán hàng hoá dưới những hình thức có thể khác nhau và với mục đích riêng của mình, nhưng bản chất của các quá trình đều giống nhau. Thứ hai, mua bán hàng hoá là khâu quyết định của hoạt động kinh doanh, là yếu tố quyết định của hành vi thương mại. Theo Điều 3, Luật doanh nghiệp, mua bán (trao đổi hàng hoá) có vị trí trung tâm trong hành vi kinh doanh. Thứ ba, hoạt động mua bán hàng hoá là một quá trình phổ biến có ý nghĩa quan trọng trong phần lớn các hoạt động của chủ thể.
Hoạt động mua bán hàng hoá được coi là một bộ phận hữu cơ quan trọng của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất, phục vụ trực tiếp đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời, đó là hoạt động đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng ngày 7 của mỗi con người. Có thể nói mua bán hàng hoá là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Hợp đồng mua bán hàng hoá * Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá (Điều 24).
Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, cũng có trường hợp pháp luật có quy định khác. Ví dụ tại Khoản 2, Điều 27, Luật thương mại 2005 có quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” * Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá (Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa) Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực thi hành, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Lúc đó hợp đồng đã trở thành “luật” của các bên, các bên phải tự giác thực hiện và phải tuân theo những nguyên tắc nhất định.
- Thực hiện nguyên tắc trung thực, hợp tác. Để hợp đồng được thực hiện, đảm bảo lợi ích của các bên, vấn đề đặt ra là các bên phải hợp tác chặt chẽ, thường xuyên thông báo cho nhau những thông tin liên quan. Nếu có tranh chấp xảy ra các bên cần tìm biện pháp thương lượng, hoà giải để giải quyết. Nguyên tắc này đã trở thành nguyên tắc chung cho hợp đồng dân sự cũng như trong kinh tế, thương mại.
- Thực hiện hợp đồng đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, phương thức thanh toán và các thoả thuận khác. Nguyên tắc này đáp ứng cho việc thực hiện các điều khoản chủ yếu của hợp đồng. - Hợp đồng được thực hiện trên nguyên tắc không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. - Khi tham gia hợp đồng mua bán hàng hoá các bên phải đảm bảo quyền sở hữu hàng hoá mua bán.
Có nghĩa là hàng hoá đó không phải là đối tượng đang bị tranh chấp. + Nghĩa vụ của bên bán. Giao hàng và chứng từ liên quan đến hàng hóa.