CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP KINH DOANH THUONG MẠI QUA XÉT XU SƠ THÁM TẠI TOA ÁN 1. Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh thương mại 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại Hiện nay, khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại chưa được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vụ án KDTM. Do đó, cần thiết phải xây dựng một định nghĩa hoàn chỉnh về tranh chấp KDTM cũng như về quá trình giải quyết tranh chấp KDTM thông qua xét xử sơ thâm.
Điều này sẽ tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc, đồng thời xác định rõ ranh giới thâm quyền và trình tự thủ tục trong quá trình giải quyết các vụ án KDTM. Kết quả tất yếu của sự mở rộng của hoạt động giao dịch và lưu thông hàng hóa, cũng như sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội chính là nhờ sự trải qua các hình thái phát triển kinh tế, sự xuất hiện của hoạt động kinh doanh thương mại. Sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển đã tạo ra sự chuyên môn hóa trong quá trình trao đôi và lưu thông hàng hóa. Kết quả của điều này là hàng hóa được cung cấp đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, đa dạng chủng loại hàng, tiễn độ giao hàng và điều kiện thanh toán.
Hoạt động kinh doanh thương mại đóng vai trò quan trọng như một khâu trung gian giữa các bên liên quan, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, phân phối và người tiêu dùng. Trong lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nguyên liệu, vật liệu và yếu tố khác cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, ôn định và hiệu quả. Nhờ vào sự trung gian này, việc tiép nhận va phân phôi nguôn lực cho sản xuất trở nên thuận lợi hơn. Với phía người tiêu dùng, sự hiện diện của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại mang lại nhiều lợi ích.
Các cửa hàng, siêu thị và trung tâm mua sắm đa dạng cung cấp hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tang lớp dân cư thỏa man nhu cầu tiêu dùng. Việc có sự lựa chọn đa dạng về sản phẩm và dịch vụ trong quá trình mua sắm giúp người tiêu dùng có thể tìm thấy những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và sở thích cá nhân. Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh thương mại cũng đảm bảo giá cả hợp lý và chất lượng sản phẩm tốt hơn cho người tiêu dùng. Như vậy, kinh doanh thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc trung gian cung cấp nguồn lực cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đồng thời mang lại lợi ích cho cả hai bên trong quá trình hoạt động thương mại.
Hoạt động kinh doanh thương mại đòi hỏi xuất hiện các hành vi buôn bán, tức là mua hàng với mục đích chính là dé bán cho người khác, không sử dung cho mục đích tiêu ding cá nhân. Nó còn bao gồm việc mua hàng vào thời điểm hiện tại nhưng bán vào thời điểm sau, hoặc mua ở một địa điểm và bán ở một địa điểm khác. Kinh doanh thương mại yêu cầu có sự đầu tư vốn và sau mỗi chu kỳ kinh doanh, việc bảo toàn vốn và đạt được lợi nhuận là quan trọng. Có thể thấy vốn kinh doanh bao gồm nguồn vốn góp, vốn vay hoặc nguồn vốn huy động từ các nguồn khác.
Nhà kinh doanh sử dụng vốn đề thực hiện hoạt động kinh doanh và hy vọng thu về số tiền lớn hơn số vốn ban đầu sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Mục tiêu lợi nhuận chính là mục tiêu dài lâu và thường xuyên trong kinh doanh thương mại. Ngoài mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp thương mại cũng mong muốn đạt được nhiều mục tiêu khác như hài lòng khách hàng, đảm bảo chất lượng, xây dựng vi thế, đảm bảo an toàn. Các doanh nghiệp luôn luôn khao 10 khát và mong muốn đạt được cùng lúc những mục tiêu này.
Tuy nhiên, với những van dé hạn chế về nguồn lực, biến động thị trường và cạnh tranh, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể đạt được tất cả các mục tiêu một cách đồng thời cùng lúc nên cần phải lựa chọn và sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên. Những mục tiêu quan trọng nhất và khả năng thực hiện cao nhất sẽ được đặt lên trước tiên. Các mục tiêu khó thực hiện hơn sẽ được thực hiện dần dần ở sau đó. Điều này cho thấy trong kinh doanh thương mại, mục tiêu lợi nhuận là trọng yếu, nhưng cùng lúc doanh nghiệp cũng cần đưa ra các quyết định và ưu tiên các mục tiêu khác dé đảm bảo sự phát triển bền vững và đáp ứng các yếu tố quan trọng khác trong môi trường kinh doanh.
Tranh chấp KDTM phat sinh từ các hoạt động KDTM giữa cá nhân, tô chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2003) định nghĩa tranh chấp là “1. Giành nhau một cách giăng co cái không rõ thuộc về bên nào; 2. Đấu tranh giang co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong van dé quyền lợi giữa hai bên” [37, tr.
Trong khi đó, theo Từ điển Luật học của Black (tái bản lần thứ 7), tranh chấp được định nghĩa là “một xung đột hoặc tranh cãi dẫn đến một vụ kiện cụ thể” [7, tr.485] hay Bách khoa toàn thư luật pháp của bờ Tây Hoa Kỳ lại định nghĩa rất chỉ tiết tranh chấp là: Một xung đột hoặc tranh cãi; xung đột về yêu sách hoặc quyền; su khang định về quyên, yêu sách hoặc yêu cầu của một bên, được dap ứng bởi những tuyên bó hoặc cáo buộc trái ngược của bên còn lại. Chủ thể của tranh tụng; vấn đề mà một vụ kiện được đưa ra và vào vấn đề mà một vụ kiện được đưa ra và vẫn đề nào được tham gia, và liên quan đến các bồi thầm viên được gọi và các nhân chứng bị kiểm tra [6, tr. Nhìn chung, các khái niệm trên đều định nghĩa tranh chấp là một xung đột hoặc tranh cãi vé một sự vật, sự việc cụ thê va kêt quả có thê dan đên một vụ kiện. 11 Việt Nam ngày một mở rộng cơ chế trên thị trường quốc tế tạo điều kiện cho các chủ thé kinh doanh, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và hộ kinh doanh cá thể ngày càng phát triển.
Quan hệ kinh tế cũng ngày càng phong phú và phức tạp. Vì vậy, Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, xây dựng các quan hệ kinh tế dựa trên nguyên tắc tự do, bình đăng, cùng có lợi và chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của từng chủ thể. Để cạnh tranh công băng với nhau các phát sinh tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thé tham gia các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều. Vậy nên việc đặt ra các yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại là cần thiết.
Các văn bản pháp luật khác nhau lại có quy định không đồng nhất về tranh chấp KDTM. Trong Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm về tranh chấp thương mại, mà đưa ra khái niệm hoạt động thương mại, theo đó hoạt động thương mại là: “Hoat động nhằm mục dich sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, dau tư, xúc tiễn thương mại và hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005. Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại cũng mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lời. Hướng tiếp cận nảy của Luật Thương mại cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tắt cả các cong đoạn của quá trình từ dau tư, sản xuất đến tiêu thu sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” tại khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Các hoạt động kinh doanh diễn ra trong nhiều lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ. Trong khi đó, hoạt 12 động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dich vụ ma còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất đưới các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, được điều chỉnh bằng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác. Theo Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì tranh chấp KDTM được hiểu là tranh chấp thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án. Có thé hiểu răng, tranh chấp KDTM thực chất là tranh chấp kinh tế đã được mở rộng nội hàm cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nội dung của tranh chấp KDTM quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 thực chất cũng là những tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận Luật Thương mại năm 2005. Dù có nhiều quan điểm cũng như cách hiểu khác nhau về thuật ngữ pháp lý, thực tế chứng minh rang các xung đột về lợi ích kinh tế trong quan hệ kinh doanh thương mại thường được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại. Như vậy, có thé hiểu ranh chấp KDTM là sự bat dong, mâu thuẫn, xung đột về quyên lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạt động KDTM. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại Qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn, có thể dựa vào các đặc điểm sau dé phân loại tranh chấp kinh doanh thương mai: Pau tiên, đôi tượng của tranh chấp kinh doanh thương mai là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thé.
Trong quan hệ thương mại, việc có quan hệ hợp tác và đồng thời cạnh tranh giữa các bên là điều kiện cần và đủ dé phát sinh tranh chấp. Đề đạt được các mục tiêu của họ thì các bên tham gia hoạt động thương mại phải vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Do đó, sự phát sinh mâu 13 thuẫn và bất đồng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là không thé tránh khỏi.