Chương 1: Lý luận về áp dụng trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam 12 CHUONG 1: LÝ LUẬN VE ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM PHÁP LY CUA THƯƠNG NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TU 1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý và áp dụng trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử 1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử Trách nhiệm pháp lý là một dạng trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm là một từ Hán - việt (ES{¥) [11], có nghĩa là “nhận cái việc ấy là phan việc của mình, mà gánh lấy”.
Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa trách nhiệm “(i) Là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phan hậu quả; (ii) Là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của minh, bảo đảm đúng dẫn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phan hậu quả” [21, tr. Như vậy, theo nghĩa thông thường, “trách nhiệm” là sự ràng buộc của một chủ thé đối với một nghĩa vụ nào đó mà nếu chủ thê đỏ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải gánh chịu hậu quả. Trách nhiệm thé hiện một sự dan thân, một sự cam kết của một chủ thé này với một chủ thê khác. Từ nguồn gốc này, một số tác giả tiếp cận thuật ngữ “trách nhiệm” theo nghĩa là nghĩa vụ, nhiệm vụ, bồn phận, quyền hạn.
Ví dụ, có thể hiểu trách nhiệm là “bổn phận phải thực hiện, nó còn là diéu không được làm, được làm, phải lam và nên làm (. Trách nhiệm là những gì mà họ buộc phải làm và phải chịu sự giám sát của người khác ” [12]. Hoặc trách nhiệm “được hiểu là khả năng của con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đông thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho minh” [LT]. Trách nhiệm đối lập với vô trách nhiệm, sắn liền với chịu trách nhiệm ” [18].
Trong khoa học pháp lý, trách nhiệm pháp lý được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó phô biến là dưới hai góc độ: trách nhiệm theo nghĩa tích cực và trách nhiệm theo nghĩa tiêu cực. Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tích cực là sự tự giác, chủ động của chủ thê trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý phù hợp 13 với yêu cầu của pháp luật cả về nội dung, hình thức và đem lại những kết quả khả quan, tích cực cho đời sống xã hội. Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực là việc chủ thể không thực hiện đúng nghĩa vụ pháp lý, vi phạm pháp luật và phải gánh chịu sự trừng phạt cua Nhà nước [15, tr. Theo nghĩa tiêu cực, trách nhiệm pháp lý được hiểu “2à hậu quả bat lợi ma chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vi hành vi vi phạm pháp luật cua minh” [21, tr.803] hay trách nhiệm pháp lý là “một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước và chủ thé vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bat lợi và những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định ở chế tài pháp luật” [13, tr.
Mặc dù còn có sự khác nhau về cách tiếp cận nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đã thống nhất: “Trách nhiệm pháp lý là những ràng buộc mà chủ thể pháp luật phải tuân thủ và gan lién với việc áp dung các chế tài do pháp luật quy định khi chủ thé đó có hành vi vi phạm pháp luật” [20, tr.901] Ngoài ra, trách nhiệm pháp lý còn được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác. Trách nhiệm pháp lý được tiếp cận theo nghĩa là chế tài thì nó gắn liền với vi phạm pháp luật. Cách tiếp cận chưa bao quát được hết thực tiễn phong phú của đời sống pháp lý về áp dụng trách nhiệm pháp lý vì luôn phải gan với yếu tổ lỗi và do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thâm quyền áp dung.Vi phạm pháp luật chỉ là một trong các “nguồn” phát sinh của trách nhiệm pháp lý. Trên thực tế, trách nhiệm pháp lý không chỉ đến từ hành vi vi phạm pháp luật mà còn có nguồn sốc từ các quan hệ pháp luật khác như giao dịch dân sự, thương mại, quan hệ hôn nhân - gia đình,.
xã hội càng phát triển thì các mối quan hệ dân sự càng phát triển, nguồn của trách nhiệm pháp lý ngày càng mở rộng. Vì vậy, trách nhiệm pháp lý cũng được hiểu là “mối liên hệ, ràng buộc pháp lý (vinculum juris) giữa các chủ thể pháp luật. Theo đó, một bên có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nào đó, bao dam cho một việc gì đó, thực hiện cam kết của mình, nham dao bảo quyên và lợi ích của bên liên quan.” [18] 14 Thương mại điện tử là một loại thị trường không biên giới. Là nơi mà các hoạt động thương mại diễn ra và được điều chỉnh bởi không chỉ pháp luật quốc gia mà còn cả pháp luật quốc tế, thông lệ và tập quán thương mại,.
Thương nhân khi hoạt động TMĐT không chỉ tạo lập các mối quan hệ với các chủ thể trong cùng một quốc gia mà còn là với chủ thé đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Do đó, nếu xác định trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động TMĐT chỉ găn liên với những vi phạm và chê tài thì rât khó đê kiêm soát một cách toàn diện. Trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ của thương nhân là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mat thiết với nhau. Nếu nghĩa vụ pháp lý là cách xử sự bắt buộc do pháp luật quy định mà một bên phải thực hiện nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia thì trách nhiệm pháp lý là còn bao gồm cả trách nhiệm xã hội mà thương nhân phải thực hiện.
Theo nghĩa rộng, Trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử là sự liên hệ, rang buộc pháp lý khi thương nhân tham gia hoạt động TMĐT. Theo đó, thương nhân có nghĩa vụ thực hiện hành vi theo hợp đồng, hoặc thỏa thuận cam kết, nhằm đảm bảo quyên và lợi ích của các bên liên quan., Theo nghĩa hẹp, trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động TMĐT gắn liền với vi phạm và chế tài. Ở trong luận văn của mình, học viên lựa chọn khái niệm trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động TMDT theo nghĩa rộng. Khái niệm áp dụng trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử Từ những phân tích trách nhiệm pháp lý nói chung, để trách nhiệm pháp lý đi vào đời sống thì chúng ta cần phải trải qua quá trình áp dụng pháp luật.
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, Nhà nước (thông qua cơ quan nha nước, cá nhân có thâm quyên) tổ chức cho các chủ thé pháp luật khác thực hiện các quy định của pháp luật. Áp dụng pháp luật được coi là hình thức thực hiện pháp luật mang tính đặc thù và đặc biệt quan trọng. Thứ nhắt, áp dụng pháp luật là việc thé hiện sự tổ chức và quyền lực của nhà nước. Thực hiện áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, 15 tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và mỗi chủ thé chỉ có thé áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.
Hoạt động áp dụng pháp luật là việc thé hiện ý chí của nhà nước được biéu hiện trong các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong thực tế, và được thể hiện trong các trường hợp cụ thể. Khi áp dụng pháp luật, trên cơ sở các quy định của pháp luật, các chủ thé có thâm quyền có thé ban hành những quyết định có gia tri bat buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các chủ thé bị áp dụng. Các quyết định này chủ yếu thé hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng. Các, quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước sẽ được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức chủ thé có thâm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật, do vậy, hoạt động này phải được tiễn hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định.
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thê, đôi với các cá nhân, tô chức cụ thê Thư tw, áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính sáng tạo. Các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế vô cùng đa dang, phong phú và phức tạp. Do vậy, muốn đưa ra được một quyết định “thấu tình, đạt lý” dé giải quyết vụ việc thì cần có sự sáng tao, tu duy logic trên co sở quy định pháp luật của người áp dung. Trên thực tế, hiện nay, nhiều nhà khoa học pháp lý cũng đưa ra quan điểm, áp dụng pháp luật là việc thực hiện hóa quy định của pháp luật dưới sự đảm bảo của Nhà nước.
Do đó, áp dụng trách nhiệm pháp lý cua thương nhân trong hoạt động TMĐT cũng là một trong những dạng thức của áp dụng pháp luật, trong đó, các chủ thể có thẩm quyền tổ chức cho thương nhân thực hiện các quy định của 16 pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh trên không gian mạng thông qua các thiết bị công nghệ điện tử. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, việc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối của thương nhân trong hoạt động TMĐT đều được chấp nhận. Trường hop 1: Ap dụng trách nhiệm pháp lý của thương nhân trong hoạt động TMĐT khi xảy hành vi vi phạm hợp đồng, thỏa thuận, hay còn gọi là “bội ước”.