CHƯƠNG 1: CÁC VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE HOP DONG THUONG MAI ĐIỆN TU VA PHAP LUAT VE HOP DONG THUONG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khai niém hop déng thuong mai dién tir Trong bối cảnh nền kinh tế số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư dang chi phối đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội đã dẫn đến sự bùng nô của thương mại điện tử (TMĐT) trên quy mô toàn cầu. Chính vì vậy, các giao dịch thương mại điện tử ngày càng được áp dụng phô biến trong hoạt động kinh doanh, thương mại trên thế giới. Sự gia tăng về số lượng cũng như chất lượng của các giao dịch TMĐT đã làm xuất hiện một dạng hợp đồng mới với tên gọi hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT).
Mặc du được sử dụng rộng rãi song đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về mặt khái niệm HDTMDT, thay vào đó, pháp luật các quốc gia thường chỉ đưa ra những quy định thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng được xác lập thông qua phương tiện điện tir, gọi chung là hợp đồng điện tử (HĐĐT). Trên bình diện quốc tế, có nhiều quan điểm khác nhau được các tổ chức quốc tế cũng như các học giả trên thé giới định nghĩa về HDDT. Theo quy định của một số tổ chức quốc tế lớn thì HDDT được hiểu đơn giản là hợp đồng được ký kết thông qua việc sử dụng thông điệp dữ liệu. Cụ thể, Luật mẫu về TMĐT của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) quy định tại Điều 11: “Trong bồi cảnh hình thành hop dong.
Thông điệp dit liệu được sử dụng dé hình thành hợp đồng, hợp đồng đó sẽ không bị từ chối hiệu lực hoặc khả năng thực thi với ly do rằng thông điệp dit liệu được sử dụng cho mục dich đó”. Uy ban kinh tế Châu Âu của Liên hiệp quốc tiếp cận dưới một góc độ khác rộng hơn, khi coi HĐĐT được đặt ra nhằm đáp ứng nhu cầu thương mại của doanh nghiệp, nó chứa một bộ điều khoản cơ bản dé có thể đảm bảo rằng một hay nhiều giao dịch điện tử có thé được ký kết trong khuôn khô pháp lý hợp lý. 2 Phan Thị Cúc (2020), Pháp luật về hợp đông thương mại điện tit ở Việt Nam trong xu thé hội nhập quốc tế, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 3 United Nations Centre for Trade Facilitation and Electronic Business (2000), Electronic Commerce Agreement, Recommendation No.
31, first edition, tr. 17 Dưới góc độ quan điểm cá nhân của các nhà nghiên cứu trên thé giới, tiêu biểu có thé ké đến luật sư Olivier Iteanu, thuộc đoàn luật sư Paris, HDDT được hiểu là “sự gap gỡ trên mạng viễn thong quốc tế giữa mot lời dé nghị giao kết hop dong thé hiện bằng phuong tiện nghe nhìn và mot lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Su gap gỡ này có thé được thé hiện tức thời nhờ sự trao đổi tuong tac”. Theo Tiến sĩ Manoj Kumar Sadual: “HDPT là cách sắp xếp và tự động hóa hop đông thông qua máy tinh trong môi trường kinh doanh.
Đây là kỹ thuật mới dé quản lý và hỗ trợ mối quan hệ kinh doanh trực tuyến giữa các đối tác, được tạo và thực hiện bằng phan mém. Ky thuật này giống với hợp dong truyền thong (dựa trên giấy) nhưng được thé hiện dưới dang điện tử hoàn toàn hoặc một phan”. Dưới góc độ đơn giản hơn thì một HDDT là một tài liệu được lập và ký dưới dạng điện tử, tức là không sử dụng bản giấy hay ban cứng khácŠ. Bên cạnh đó, trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, HĐĐT cũng dần được định nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Nhìn chung, HĐĐT đều được quy định theo hướng là một dạng hợp đồng trong đó việc hình thành hợp đồng được thực hiện khi có sự tham gia của các phương tiện điện tử. Chi tiết tác giả sẽ trình bày tại Chương 2 của luận văn. Tương tự trên thế giới, tại Việt Nam, thuật ngữ HĐĐT chính thức được thừa nhận lần đầu tiên tại Luật Giao dịch điện tử 2005. Đến Luật Giao dịch điện tử 2023, giá trị pháp lý của HDDT được mặc nhiên thừa nhận và theo đó HĐĐT là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”.
Thông điệp dữ liệu được giải thích là thông tin được tạo ra, được gửi, được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tu’. Trong đó, phương tiện điện tử được hiểu là phần cứng, phần mém, hệ thống thông tin * Nhà pháp luật Việt — Pháp (1999), Khoảng khong vũ trụ, mang khong gian và thong tin viễn thong (hến bf khoa học và các vấn dé pháp lý), Kỷ yếu hoi thảo Pháp — Viet, Nxb. Chỉnh trị quốc gia, Hà Nội.106 5 Manoj Kumar Sadual (2021), “Electronic contracts: legal issues and challenges”, International Journal of Research and Analytical Reviews, Volume 8, Issue 3, tr. Š Aditya Gaur (2021), “E-Contracts, Legal issues and challenges involved: An overview”, Journal ofEmerging Technologies and Innovative Research, Volume 8, Issue 1, tr.
7 Khoản 16, Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 8 Khoản 4, Điêu 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 18 hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không day, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tu. Chính vì vậy, không giống như hợp đồng truyền thống, các bên tham gia hợp đồng phải trực tiếp dam phán và ký kết, HDDT cho phép các bên tham gia hợp đồng thê hiện ý chí và mục đích giao kết thông qua phương tiện điện tử và nội dung hợp đồng tổn tại dưới những dạng thức khác nhau của thông điệp dữ liệu. Có thé thấy, khái niệm HDDT của pháp luật Việt Nam tương đồng với cách tiếp cận chung trên thế giới khi đều đề cập đến một đặc điểm quan trọng mang tính đặc trưng của HĐĐT. Đó là hợp đồng được xác lập dưới dang thông điệp dữ liệu.
Đây là yếu tố căn bản đề phân biệt HĐĐT với hợp đồng truyền thống. Giống như Luật Giao dịch điện tử 2005, Luật Giao dịch điện tử 2023 điều chỉnh cho tất cả các loại hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử mà không phụ thuộc vào mục đích giao kết hợp đồng hay nội dung của hợp đồng. Nói cách khác, Luật Giao dịch điện tử 2023 chủ yếu phản ánh khái niệm HĐĐT thông qua phương thức thiết lập chúng. Xét về nội hàm HDTMDT vẫn dựa trên quy định của luật gốc - luật dân sự.
Cụ thể, hợp đồng đều phản ánh sự thoả thuận giữa các bên trong giao kết nhằm làm phát sinh, thay đổi và cham dứt các quyền và nghĩa vụ dân su!°. Đồng thời, BLDS 2015 không có sự phân biệt giữa hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân su, tương tự theo Luật Giao dịch điện tử 2023, HĐĐT có thể được sử dụng trong cả hoạt động thương mại hoặc phi thương mại. Như vậy, điểm then chốt để phân biệt HĐTMĐT với những dạng khác của HĐĐT, nằm ở lĩnh vực điều chỉnh trong quan hệ pháp luật về dan sự hay thương mại - kinh tế. Xét trên góc độ thương mại- kinh té, Luật Thương mại 2005 chỉ ra rằng: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm muc dich sinh lợi, bao gom mua ban hang hoá, cung ứng dich vu, đầu tu, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục dich sinh lợi khác”! Đồng thời Luật Thương mại 2005 cũng thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương ® Khoản 2, Điêu 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 19 Điều 385 BLDS 2015.
1! Khoản 1, Điêu 3 Luật Thương mại 2005 19 mại theo Diéu 15 Luật Thương mại 2005. Cụ thể, khi một phan hoặc toàn bộ qua trình hoạt động thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mang mở khác thì được pháp luật công nhận là hoạt động TMĐT. Do vậy, việc các bên xác lập hợp đồng thông qua việc sử dụng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông và các mạng mở khác nhằm mục đích sinh lời sẽ hình thành HĐTMĐT. Từ những phân tích về đặc thù của HDDT và hoạt động thương mại, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, trong khuôn khổ của luận văn này, HĐTMĐT được hiểu là một dạng của HDDT được thiết lập bằng thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử nhằm thiết lập, thay đổi hoặc chấm dirt quyên và nghĩa vụ pháp ly của các bên trong hoạt động thương mại, trong đó có ít nhất một bên chủ thể là thương nhân.
Đặc điểm của hợp đồng thương mại điện tử Như đã phân tích tại mục 1.1 Chương này, HĐTMĐT xét về bản chất vẫn là giao dich dân sự truyền thống như những hợp đồng tổn tại dưới các hình thức như văn bản, lời nói hay hành vi cụ thể!?. Do đó, HĐTMĐT có các đặc điểm đặc trưng của một hợp đồng truyền thống. Cu thé, những nguyên tắc giao kết hợp đồng đối với hợp đồng truyền thống như nguyên tắc tự do, bình đẳng trong giao kết và thực hiện hợp đồng, chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng,. van sẽ được áp dụng cho HDTMDT.
Tương tự, về mặt nội dung, những điều khoản được đưa ra trong HDTMDT không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không được trái với đạo đức xã hội. Về mặt chủ thể, không có bất kỳ giới hạn nào về mặt chủ thể tham gia HĐTMĐT so với bất kỳ hợp đồng nào khác miễn là chủ thể đáp ứng các điều kiện về năng lực chủ thể. Bên cạnh đó, HĐTMĐT khác hợp đồng truyền thống ở khía cạnh kỹ thuật, điều này đặt ra yêu cầu riêng về cơ chế đặc thù để xử lý các vấn dé phát sinh do đặc điểm kỹ thuật của HDTMDT. Các đặc điểm này bao gồm: 1 Nguyễn Phan Phương Tan (2021), Báo VỆ quy én của người dùng trong hop đồng cấp quyền người ding cuối, Luậnan tiến sĩ, Trường Đại học Kinh té- Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hỗ Chí Minh, tr.43 20 Thứ nhất, thông điệp dit liệu được sử dung trong HDTMPT.
Đây là đặc trưng cơ bản tạo tiền để cho các đặc điểm tiếp theo của HDTMDT. Theo đó, thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi, được nhận được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử! Thông qua việc sử dung thông điệp dit liệu, các bên tham gia HĐTMĐT không nhất thiết phải trực tiếp ngồi lại đàm phán và ký kết hợp đồng. Đây có thể xem là một trong số những điều kiện tiên quyết cho việc xác định một hợp đồng có phải là HDTMDT hay không?