Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về LĐ. Thực trạng QLNN về LĐ tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Một số giải pháp tăng cường QLNN về LĐ tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG 1. Lao động và các khái niệm liên quan 1. Lao động Tìm hiểu khái niệm về lao động là rất cần thiết để nghiên cứu QLNN về lao động, trong giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin viết: “LĐ là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người” [33]. Về mặt pháp lý, trong Bộ luật Lao độngnăm 1994 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết: “ LĐ là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội“ [34].
Hai khái niệm nêu trên cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động LĐ phong phú của con người. Hoạt động LĐ của con người có vai trò hết sức quan trọng. Trong LĐ sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ LĐ sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn.
Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. LĐ là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình sản xuất, LĐ giữ vai trò quan trọng làm môi giới cho sự trao đổi. LĐ chính là việc sử dụng sức LĐ của các đối tượng LĐ. Sức LĐ là toàn bộ trí lực và sức lực của con nguời được sử dụng trong quá trình LĐ.
Sức LĐ là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhiều nhất để tạo ra sản phẩm.Nếu coi sản xuất là một hệ thống bao gồm ba bộ phận tạo thành (các nguồn lực,quá trình sản xuất ,sản phẩm hàng hoá) thì sức LĐ là một trong các nguồn lực khởi đầu của một quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hoá, lực lượng LĐ bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Nguồn lao động Nguồn LĐ là toàn bộ những người trong độ tuổi LĐ có khả năng LĐ Theo quy định của nhà nước: độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, 8 trừ một số trường hợp sau: - Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. - Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động 2019. - Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ. Lực lượng lao động Lực lượng lao động là tổng số người lao động đang tham gia vào sản xuất trong một đơn vị kinh tế. Lực lượng lao động được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá năng suất và hiệu quả sản xuất của một quốc gia hoặc một doanh nghiệp. Lực lượng lao động bao gồm các người lao động có thể lao động và có năng lực lao động trong một khoảng thời gian nhất định.
Những người này được tính vào tổng số người lao động đang hoạt động và thường được đo bằng số lượng người lao động đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm trong địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia. Trong phân tích kinh tế, lực lượng lao động thường được chia thành các nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và địa phương. Thông qua việc phân tích những thông tin này, các nhà quản lý, chính phủ và các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá được tình trạng thị trường lao động, đưa ra các giải pháp và chính sách phù hợp để tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế của quốc gia. Ngoài ra, phân tích lực lượng lao động cũng có thể đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển của thị trường lao động trong tương lai, từ đó đưa ra các kế hoạch và chiến lược phù hợp cho các doanh nghiệp, giúp tối ưu hóa sản xuất và kinh doanh.
Từ đó, các doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất và góp phần phát triển của đất nước. Quan hệ lao động Khoản 5, Điều 3, Bộ luật Lao độngnăm 2019 quy định: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và 9 quan hệ lao động tập thể”[36]. Quan hệ lao động là một trong các bộ phận cấu thành của quan hệ sản xuất trên thực tế và, thuộc nhóm các quan hệ tổ chức, quản lí và phụ thuộc vào quan hệ sở hữu được quy định Trong mối quan hệ lao động này, một bên tham gia với tư cách là người lao động, người lao động có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo yêu cầu của bên kia và có quyền nhận thù lao từ công việc đó Một bên kia là bên thứ hai người sử dụng lao động , và người sử dụng lao động có quyền sử dụng sức lao động của người lao động và có nghĩa vụ trả thù lao về việc sử dụng lao động đó.
Nội dung quan hệ lao động còn bao gồm các vấn đề về thời gian lao động, và sự chi phối của các bên đến điều kiện lao động và trình tự tiến hành công việc, phân phổi sản phẩm… Yếu tố cơ bản nhất của quan hệ lao động là vấn đề sử dụng lao động nên cũng có thể gọi đó là quan hệ sử dụng lao động theo quy định của pháp luật. Tranh chấp lao động Bộ luật Lao động năm 1994, tại khoản 1 Điều 157 đã đưa ra định nghĩa chính thức về tranh chấp lao động như sau: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề”. Kế thừa định nghĩa về tranh chấp lao động tại Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa ra định nghĩa tranh chấp lao động: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động" [34]. Qua nghiên cứu cho thấy: Sắc lệnh 64/SL ngày 08/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà có quy định về nhiệm vụ của Nha thanh tra lao động là “dàn xếp những xích mích giữa chủ và công nhân” (Điều thứ tư).
Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 quy định “Sẽ để cho trọng tài xét xử những sự xích mích xảy ra do việc thi hành khế ước ” (Điều 49). Sắc lệnh 95/SL ngày 13/8/1949 quy định nhiệm vụ của Thanh tra lao độnglà “dàn xếp xích mích xảy ra giữa chủ hay cơ quan dùng công nhân và công nhân. Trên cơ sở quy định của các Bộ luật Lao động trước đây, Khoản 1, Điều 179, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Tranh chấp lao độnglà tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau; 10 tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”[36]. Tranh chấp lao độngtrước tiên phải là một tranh chấp, nghĩa là một xích mích, bất đồng, xung đột trong quan hệ lao động được biểu hiện ra bên ngoài.
Tranh chấp lao độngkhông chỉ là tranh chấp về sự LĐ, về sự làm việc, tức là xung đột về hành vi liên quan đến hoạt động LĐ của NLĐ. Tranh chấp lao độnglà loại tranh chấp về các vấn đề liên quan đến quá trình LĐ, tức là quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt mối quan hệ lao động giữa các bên. Không chỉ có vậy, tranh chấp lao độngcòn bao gồm cả các xung đột liên quan đến học nghề, việc làm. tức là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của các bên gồm NLĐ và người sử dụng LĐ.
Như vậy, tranh chấp lao độngcó thể hiểu là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ lao động hoặc quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động và gắn liền với quá trình LĐ của NLĐ. Vì vậy, tranh chấp lao độnglà tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động trong quá trình thuê mướn, sử dụng LĐ, bao gồm cả cá nhân và tập thể NLĐ, đại diện các bên trong quan hệ lao động. Quản lý nhà nước về lao động 1. Khái niệm Quản lý nhà nước về lao động QLNN về lao động là một trong những lĩnh vực của quản lý nhà nước.
Vì thế, để hiểu rõ khái niệm “QLNN về lao động ”, trước hết cần hiểu được thuật ngữ “quản lý nhà nước” đó là sự tác động của nhà nước bằng hình thức hoạt động của một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước gọi là cơ quan nhà nước (cũng thường gọi là cơ quan hành chính hay hành pháp) mà nhiệm vụ là chấp hành Hiến pháp, luật, pháp pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước. QLNN là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Từ những phân tích trên, có thể thấy, QLNN về LĐ được xem xét, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau sau.