Chương I: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở BÌNH DƯƠNG TRƯỚC 2010 1.Điều kiện tự nhiên - lịch sử hình thành 1. Vị trí địa lý, địa hình, đất đai, khoáng sản, khí hậu Bình Dương thuộc vùng Đông Nam Bộ, theo quyết định số 44/1998/QĐ-CP ngày 23-2-1998 của Thủ tướng Chính phủ, Bình Dương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, được chia tách và tái lập từ tỉnh Sông Bé từ ngày 01/01/1997, có diện tích tự nhiên 2.694,44 km2 với dân số 685 ngàn người. Bình Dương với tọa độ địa lý 10o51' 46" – 11o30' Vĩ độ Bắc, 106o20' – 106o58' kinh độ Đông; phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh; phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.Bình Dương là cửa ngõ giao thương với thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế – văn hóa của cả nước. Sau nhiều lần điều chỉnh về địa giới, đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã, hiện nay tỉnh Bình Dương có 09 đơn vị hành chính huyện gồm 01 thành phố, 04 thị xã, 04 huyện với 91 đơn vị hành chính cấp xã (48 xã, 41 phường, 02 thị trấn).
Trong đó Thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị- văn hóa đã được công nhận là đô thị loại 2 năm 2014. Đến nay, dân số Bình Dương khoảng hơn 2 triệu người (trong đó tạm trú khoảng 50%), mật độ dân số khoảng 669 người/km2 [3, tr. Bình Dương nằm chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao từ 20-25m so với mặt biển, độ dốc 2-5 độ và độ chịu nén 2kg/cm2. Nhìn tổng thể, địa hình tỉnh Bình Dương có dạng thoải thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam.
Bề mặt địa hình có độ cao trung bình từ 60 mét đến 40 mét ở phía Bắc, hạ thấp xuống 30 mét đến 10 mét ở phía Nam. Dựa vào độ cao và đặc điểm hình thái, có thể chia diện tích tỉnh Bình Dương ra 4 kiểu địa hình chính: 13 Vùng địa hình núi sót và đồi núi thấp: Địa hình núi sót có diện tích hạn chế, phân bố rải rác trong diện tích tỉnh, gặp ở khu vực phía Nam thị xã Dĩ An. Đặc trưng cơ bản của địa hình này là gồm các đỉnh núi đơn độc nổi lên giữa bề mặt đồng bằng, tạo nên các cảnh quan thiên nhiên khá thơ mộng. Các ngọn núi có độ cao không lớn như núi Ông (284 m), núi Tha La (198 m), núi Đất (115 m), núi Châu Thới (82 m), kiểu địa hình này chiếm diện tích không đáng kể.
Vùng địa hình đồi núi thấp có lượn sóng yếu: Phân bố trên diện tích rộng lớn chủ yếu thuộc các huyện, thị Phú Giáo, Tân Uyên, ở phía Đông - Đông bắc Bình Dương, từ nông trường Phước Sang qua Phước Vĩnh đến Tân Thành, chiếm khoảng 40% diện tích toàn tỉnh. Vùng địa hình bằng phẳng: Chiếm phần lớn diện tích tỉnh Bình Dương, khoảng 55% diện tích toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã Dầu Tiếng, Bến Cát, Thủ Dầu Một, Dĩ An, một phần huyện Phú Giáo, Tân Uyên, từ khu vực Minh Tân huyện Dầu Tiếng qua thị xã Bến Cát đến thị xã Dĩ An. Vùng địa hình thung lũng bãi bồi: Phân bố hạn chế, chỉ chiếm khoảng 5% diện tích toàn tỉnh, chúng tạo nên các dải hẹp dọc ven các sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài Gòn, sông Thị Tính, và các suối lớn như suốt Cát, Rạch Rạt, Mã Đà. Khí hậu Bình Dương mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa, từ tháng 5 - 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1800mm-2000mm với số ngày có mưa là 120 ngày.Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335 mm, năm cao nhất có khi lên đến 500 mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29oC ( tháng 4), tháng thấp nhất là 24oC ( tháng 1).
Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9.000oC, số giờ nắng trung bình 2.400 giờ, có năm lên đến 2. Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới. Về mùa khô gió thịnh hành là hướng Đông, Đông Bắc; về mùa mưa gió thịnh hành là hướng 14 Tây, Tây Nam. Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80-90% và biến đổi theo mùa.
Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa, do đó độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Giống như độ ẩm không khí, độ ẩm trong năm ít khi biến động. Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm, ẩm độ cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế. Nói chung khí hậu Bình Dương tương đối hài hòa, ít thiên tai như bão, lụt.
Bình Dương cũng là tỉnh có đất đai và khoáng sản đa dạng và phong phú về chủng loại. Các loại đất chủ yếu ở đây như đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bổ trên các huyện Dầu Tiếng, Tx. Bến Cát, Thuận An, Thủ Dầu Một, đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các vùng Thị xã Tân Uyên, huyện Phú Giáo, khu vực Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất phù sa Glay(đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, thị xã Dĩ An, đất thấp mùn Glay có khoảng 7.900ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông, rạch, suối.
Bình Dương còn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất như: đất cao lãnh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất ở các huyện như Dĩ An, thị xã Tân Uyên, Thuận An, thành phố Thủ Dầu Một. Lịch sử hình thành và phát triển Vùng đất Bình Dương ngày nay, thưở xa xưa là một nơi hoang vu, núi rừng rậm rạp. Qua các di chỉ khảo cổ được khai quật tại Vườn Dũ, Gò Đá, Cù Lao Rùa thuộc Tân Uyên các nhà khảo cổ đã phát hiện từ thời kỳ đồ đá mới đến thời kỳ đồ đồng. Vùng đất Bình Dương ngày nay đã từng là địa bàn sinh tụ của tộc người Anhđônêdiên cổ đại, tổ tiên của người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ Nông… ngày nay.
Từ đó các nhóm dân tộc bản địa Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ Nông… từng bước được hình thành, quy tụ, khai phá đất đai và sinh sống ở đây [59, tr. 15 Đại bộ phận cư dân Bình Dương bất kể xuất phát từ đâu tới đều là người lao động nghèo khổ, cùng cảnh ngộ, bị phong kiến, thực dân, đế quốc áp bức bóc lột. Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau, nhu cầu tồn tại, làm chủ thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm đã gắn bó họ thành một khối có tinh thần yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Nét độc đáo của dân cư Bình Dương là sự quy tụ cư dân từ bốn phương trong cả nước cùng với các dân tộc bản địa.
Trong quá trình xây dựng cuộc sống biết bao thế hệ đã cùng nhau vun đắp, bảo vệ mảnh đất này. Có thể nói, đây là hình ảnh thu nhỏ những tính chất, sắc thái của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, do yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, quốc phòng, ngày 02/7/1976 Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định sát nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và 4 xã An Bình, Bình An, Đông Hoà, Tân Đông Hiệp thuộc huyện Thủ Đức thành tỉnh Sông Bé, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Thủ Dầu Một. Tỉnh Sông Bé có diện tích quá rộng, với nhiều vùng có đặc trưng kinh tế- xã hội rất khác nhau; trong đó, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, biên giới cần được Nhà nước quan tâm đầu tư bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt.
Trong 20 năm tồn tại của tỉnh Sông Bé, những chính sách ưu đãi đặc biệt đó chưa có điều kiện để phát huy tác dụng. Trong khi đó, những vùng có tiềm năng phát triển công nghiệp, đô thị ở phía Nam của tỉnh lại không thể tập trung đầu tư để tạo sự phát triển đột phá như những đầu tàu phát triển vì phải đầu tư dàn trải cho nhiều vùng của tỉnh. Kết quả là trong 20 năm tồn tại, tỉnh Sông Bé không thể tạo được những chuyển biến đáng kể trong phát triển dù Đảng bộ và nhân dân đã có rất nhiều cố gắng. Thực hiện chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết kỳ họp thứ X của quốc hội khóa IX về việc chia tách tỉnh, ngày 26/11/1996, ban thường vụ tỉnh ủy Sông Bé ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TU về việc chia tách tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.
Sau đó, Tỉnh ủy Sông Bé thành lập ban chỉ đạo, tiến hành các bước chia tách tỉnh. Ngày 01/01/1997, tỉnh 16 Bình Dương chính thức được tái lập với 4 đơn vi hành chính cấp huyện (Thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện: Tân Uyên, Bến Cát, Thuận An) và 77 xã, phường, thị trấn. Diện tích tự nhiên của tỉnh sau khi tái lập là 2.718,50 km2, dân số 648. Cơ cấu hành chính của tỉnh gồm: thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát với 77 xã, phường, thị trấn.
Đồng thời với việc tái lập tỉnh Bình Dương, ngày 12/12/1996 Bộ chính trị ban hành Quyết định số 118- QĐNS/TW thành lập Đảng bộ Bình Dương và chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời gồm 37 đồng chí, trong đó Ban Thường vụ lâm thời có 11 đồng chí. Khi thành lập, Đảng bộ tỉnh có 9 đảng bộ trực thuộc, 303 chi bộ, Đảng bộ cơ sở Đảng với hơn 9.000 đảng viên [ 3 , tr. Đến cuối tháng 8/1999, Chính phủ quyết định thành lập thêm 3 huyện: Dĩ An, Dầu Tiếng, Phú Giáo và các xã Định Thành thuộc huyện Dầu Tiếng, xã Bình An thuộc huyện Dĩ An.