Chương 1: Một số van đề về hoạt động nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu mặt hàng sàn gỗ công nghiệp của Công ty CP TM & DV XNK TG Việt Nam (2017 — 2019). Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khâu mặt hàng sàn gỗ công nghiệp của Công ty CP TM & DV XNK TG Việt Nam. CHUONG 1: MOT SO VAN DE VE HOAT ĐỘNG NHAP KHẨU HANG HOA CUA DOANH NGHIEP 1.
Cơ sở lý thuyết chung về hoạt động nhập khẩu hang hóa 1. Khái niệm nhập khẩu Về mặt lý thuyết, định nghĩa nhập khẩu được giải thích như sau : “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thé Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thé Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật - Trích khoản 1,điều 28, Luật Thương mại 2015.” Thực tế, có thể hiểu ngắn gọn nhập khẩu là hoạt động đưa hàng hóa, nguyên vật liệu, dịch vụ từ các nước trên thế giới hoặc từ khu vực hải quan riêng vào Việt Nam nhăm đáp ứng nhu cầu trong nước, tái sản xuất hoặc kinh doanh nham mang lai loi nhuan kinh tế cho cá nhân hoặc doanh nghiệp. Vai trò hoạt động nhập khẩu - Nhập khâu giúp đáp ứng kịp thời các mặt hàng, nguyên vật liệu trong nước còn thiếu và không thé tự sản xuất được hoặc sản xuất thiếu so với nhu cầu vi chi phí vận hành hoạt động sản xuất rất cao.Việc nhập khẩu giúp cân đối cung cầu trên thị trường giúp nền kinh tế ôn định phát triển và bền vững. - Nhập khẩu tăng sự da dang hoá các mặt hàng tiêu dùng nội dia, giúp thi phần hàng tiêu dùng phong phú và nhiều sự chọn lựa hơn.Người tiêu dùng thỏa sức chọn lựa sản phẩm về xuất xứ, chúng loại hàng hóa, giá cả và chất lượng.
- Nhập khẩu gây nên cạnh tranh trong tiêu dùng giữa hàng nhập khâu với hàng nội địa. “Cú hich’ này chính là động lực giúp nhà sản xuất nội địa tìm tòi, sáng tạo, cải tiến nâng cao chất lượng và dịch vụ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả trong kinh doanh và giữ chân khách hàng. - Nhập khâu góp phan đưa các kỹ thuật khoa học công nghệ tiên tiến từ các nước phát trién trên thé giới vào Việt Nam. Một phần giúp tăng thêm cơ sở vật chất, được chuyền giao công nghệ cũ sang mới, tăng năng suất và hiệu quả làm việc trong sản xuất của doanh nghiệp.
Một phần giúp nâng cao trình độ sản xuất tại quốc gia dang phát triển, kém phát triển và tiết kiệm được chi phí và thời gian cho các nước này. Như vậy, nhập khẩu được ví như cầu nối của hoạt động ngoại thương giữa Việt Nam và các nước trên thê giới, tăng thuận tiện cho người tiêu dùng nội địa trong nước và quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước quôc tê ngày càng sâu rộng. Vai trò của nhập khâu là vô cùng quan trọng. Các hình thức trong nhập khẩu - Nhập khẩu trực tiếp (hay nhập khẩu tự doanh) nghĩa là: doanh nghiệp nội địa trực tiếp giao dịch và ký hợp đồng nhập khẩu với đối tác của nước ngoài, không có sự can thiệp của bên trung gian.
Quá trình diễn ra độc lập và không có sự ràng buộc nhau lẫn nhau, có thể bên bán chỉ bán và không mua, bên mua chỉ mua và không bán. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp nắm toàn quyền chủ động, tiễn hành đơn giản, tiết kiệm những chỉ phí qua trung gian. Nhưng mức độ rủi ro cực cao nếu doanh nghiệp không chịu tìm hiểu kỹ các thông tin trong các bước nghiên cứu thị trường, bước tìm kiếm đối tác, bước ký hợp đồng và thực hiện hợp đồng nhập khâu. Doanh nghiệp cũng sẽ phải bỏ vốn của doanh nghiệp và các chi phí liên quan cũng như chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sai phạm xảy ra.
- — Nhập khẩu gián tiếp (hay nhập khẩu ủy thác) nghĩa là: Cá nhân hoặc doanh nghiệp nội địa có kinh doanh những mặt hàng cần nhập khẩu nhưng thương nhân đó không có điều kiện pháp lý, không đủ tài chính,. để tham gia nên sẽ kí hợp đồng ủy thác với doanh nghiệp trung gian. Những doanh nghiệp này có khả năng trực tiếp giao dịch với phía xuất khẩu rồi tiến hành nhập khẩu hàng hóa theo yêu cầu. Doanh nghiệp được ủy thác sẽ trực tiếp đứng ra đàm phán và kí kết hợp đồng với doanh nghiệp xuất khẩu để nhập được hàng, sau đó nhận được một khoản hoa hồng hay gọi là phí ủy thác, khoảng 1 % giá trị tong của hợp đồng nhập khẩu.
Quan hệ giữa bên ủy thác và được ủy thác dựa trên hợp đồng ủy thác, đây được xem là bản thỏa thuận của hai bên. Đặc điểm của hình thức này là doanh nghiệp nhận ủy thác sẽ không tự bỏ vốn, không cần xin hạn ngạch cũng như không cần nghiên cứu thị trường đầu ra sản phâm do không trực tiếp tiêu thụ số lượng hàng hóa đã được nhập về. Doanh nghiệp này chỉ đại diện cho bên uỷ thác dé tiến hành giao dich với doanh nghiệp xuất khâu đầu nước ngoài, ký kết hợp đồng nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cho lô hàng cũng như khi tốn that hàng xảy ra, bên nhận ủy thác sẽ đại diện cho bên uỷ thác gửi khiếu nại đòi và đòi bồi thường với doanh nghiệp xuất khẩu đầu nước ngoài. - — Nhập khẩu buôn ban đối lưu (hay nhập khẩu hàng đổi lấy hàng) nghĩa: hình thức nhập khâu song song, đi liền với xuất khẩu, không được tách rời.
4 Trong đó người mua chính là người bán và ngược lại. Hoạt động không phải thanh toán bằng tiền mà bằng giá trị lượng hàng trao đổi tương đương nhau. Vừa bán được hàng, vừa mua được hàng nên tiết kiệm các chỉ phí. Đặc điểm của hình thức này là hai hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu này sẽ được kí kết và thực hiện trên cùng một bản hợp đồng.
Chỉ được áp dụng trong trường hợp hai bên có nhu cầu buôn bán đối lưu. Thường được các nước đang phát triển áp dụng. - Tạm nhập tái xuất nghĩa là: nhập khâu hang hóa vào trong nước nhưng không nhằm mục đích tiêu thụ, sau một thời gian sẽ đem tái xuất khẩu Sang nước thứ ba dé thu lợi nhuận lớn hơn. Hình thức này có đặc điểm là phải kí kết 02 hợp đồng cụ thể gồm hợp đồng nhập khẩu được kí với doanh nghiệp xuất khẩu và hợp đồng xuất khẩu được kí với doanh nghiệp nhập khâu.
Thư tín dụng giáp lưng là phương thức thanh toán của phương thức này. Thực tế, có những trường hợp, hàng hóa có thể không phải tạm nhập vào nước tái xuất mà được chuyên trực tiếp tới cảng nước thứ ba nhưng thanh toán vẫn sẽ được trả tới người tái xuất. - Nhập khẩu gia công nghĩa là: nước nhập khẩu (hay nước nhận gia công) sẽ tiến hành nhập máy móc, trang thiết bị, công nghệ hoặc nguyên liệu thô từ phía nước xuất khau(hay nước đặt gia công). Sau đó nước nhận gia công sẽ tién hành gia công sản pham theo đúng tiêu chuan của nước đặt gia công.
Sau khi sản pham hoàn thành, sẽ được xuất trả lại cho nước đặt gia công hoặc chuyền sang nước thứ ba để tiêu thụ hoặc gia công các công đoạn tiếp. Hình thức này có đặc điểm là gan chặt với hoạt động sản xuất. Đối với, nước nhận gia công sẽ thu được một khoản phí, gọi là phí gia công. Mặt khác, mặt hàng gia công thường yêu cầu số lượng lao động lớn nên các nước nhận gia công thông thường là các nước kém va các nước dang phát triển.
Nội dung hoạt động nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp 1. Nghiên cứu thị trường a. Khái niệm về thị trường “ Thị trường của doanh nghiệp thương mại là một hay nhiều nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể nào đó mà doanh nghiệp với tiềm năng của mình có thê mua hàng hoá, dịch vụ để thoả thoả mãn nhu cầu của khách hàng — Trích Hoàng Minh Đường, Nguyễn Thừa Lộc, Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại, NXB Lao động - xã hội. Nội dung nghiên cứu thị trường Nghiên cứu các mặt hàng cần nhập khẩu: Mục đích của việc nghiên cứu giúp doanh nghiệp chọn lựa đúng mặt hàng, chủng loại mà thị trường có nhu cầu cao, giúp hiệu quả kinh doanh tăng và đạt được mục tiêu lợi nhuận doanh nghiệp đề ra.
Doanh nghiệp cần đặt và trả lời một số câu hỏi sau: + Mặt hàng nào mà thị trường trong nước còn thiếu và có nhu cầu cao ? + Khả năng tiêu thụ mặt hàng đó ra sao ? + Mặt hàng đó thuộc giai đoạn nào trong chu kỳ sống sản phẩm ? + Lượng sản xuất các mặt hàng trong nước như thế nào ? - Nghiên cứu dung lượng thi trường: là nghiên cứu về khối hang hoá được giao dịch trong một phạm vi thị trường (toàn cầu, khu vực, mỗi nước) trong khoảng thời gian nhất định ( một năm). Người nghiên cứu cần xác định rõ nhu cầu thực tế của khách hàng, lượng dự trữ, xu hướng tăng giảm của nhu cầu trong thời gian tương lai, khả năng đáp ứng của nhà sản xuất trong nước. Thông thường, dung lượng thị trường sẽ thay đổi phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác động trong khoảng thời gian nhất định. Ba nhân tố ảnh hưởng chung đến dung lượng thị trường đó là: + Các nhân tô ảnh hưởng ngắn hạn (theo chu kì) + Các nhân tô ảnh hưởng dài hạn + Các nhân tô ảnh hưởng tam - Nghiên cứu đối tác giao dịch: Ho có thé là nhà xuất khẩu hay khách hang, có thé là cá nhân hoặc tô chức.
“Hai bên giao dịch với nhau dé kí kết và thực hiện hợp đồng ngoại thương, có thé là mua bán trao đôi hàng hóa hoặc dich vụ.” Các yếu tố dé lựa chọn được đối tác tốt bao gồm: + Chọn nước dé giao dịch: nghiên cứu tình hình sản xuất mặt hàng tại nước đó, chất lượng mặt hàng cần nhập khẩu, chính sách pháp luật và tập quán thương mại tại nước đó ra sao. + Chọn doanh nghiệp dé giao dịch: cần nghiên cứu triết lý kinh doanh, kinh doanh trong lĩnh vực gì, mô hình kinh doanh, cơ sở hạ tầng, uy tín doanh nghiệp của họ. - Nghiên cứu về giá cả của mặt hàng nhập khâu: Trên thị trường thế giới, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời phản ánh và chi phối mỗi quan hệ giữa cung và cầu của hàng hoá.