Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1. Lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao động nữ 1. Lao động nữ 1. Khái niệm Lao động nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc gia, bao gồm một bộ phận dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có việc làm hoặc không có việc làm, mong muốn có việc làm.
Căn cứ Điều 1 Nghị định số 23/CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về những quy định riêng đối với lao động nữ thì người lao động nữ được xác định là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động thực hiện giao kết hợp đồng lao động, bao gồm: Người LĐN làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu; Người LĐN làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp Nhà nước mà không phải là công chức, viên chức Nhà nước; nếu là công chức, viên chức Nhà nước thì phải là những người được làm những việc mà quy chế công chức không cấm; Người LĐN làm việc trong các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác mà không phải là cán bộ chuyên trách của đoàn thể, tổ chức đó; Người LĐN là người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác; Người LĐN làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam mà không phải là công chức, viên chức Nhà nước [26, tr. Cũng tại Điều 1 Nghị định số 23/CP, người sử dụng LĐN được quy định là: 9 Mọi tổ chức, cá nhân sử dụng LĐN thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, tổ hợp tác có thuê lao động; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp; cá nhân, tổ chức cơ quan nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam. Các cơ quan hành chính, sự nghiệp Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội khác có thuê lao động nữ [26, tr. Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, ít nhất là từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ một số trường hợp ngoại lệ), có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động [2, tr.
Đặc điểm của lao động nữ Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động của xã hội. Cùng với nam giới, phụ nữ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, lao động nữ có sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý so với lao động nam trên các phương diện cơ bản là: Thứ nhất, lao động nữ gắn với thiên chức làm mẹ. Đây là đặc điểm ảnh hưởng nhiều nhất tới việc làm của lao động nữ giới, từ học tập, duy trì và nâng cao trình độ chuyên môn, lựa chọn ngành nghề và tuyển dụng lao động của các tổ chức, các doanh nghiệp đến thu nhập từ lao động của họ.
Với thiên bẩm của phụ nữ là mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ. Từ thiên chức này của lao động nữ nên đối với từng quốc gia đã có chính sách riêng phù hợp với lao động nữ. Ở Việt Nam, trong Luật lao động quy định tại Điều 114 có ghi rõ: Trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ, lao động nữ được nghỉ khám thai và nghỉ thai sản từ 4-6 tháng, tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh [18, tr.191]; tại điều 115 - Bộ Luật Lao động còn quy định: Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ sớm mỗi ngày 60 phút 10 trong thời gian làm việc mà vẫn hưởng đủ lương, các chủ sử dụng lao động vẫn phải trả bảo hiểm xã hội cho lao động nữ không làm việc vì thai sản” [18, tr. Mặc dù Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện thiên chức này, song trong thực tế, chính từ thiên chức đặc biệt này đã làm ảnh hưởng nhiều tới việc làm của lao động nữ trong đó có lao động nữ nông thôn, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay, một số doanh nghiệp không muốn tuyển dụng lao động nữ với lý do lao động nữ phải mất nhiều thời gian nghỉ sinh con và nuôi con, đồng thời phải thực hiện các chế độ mà lao động nữ được hưởng do pháp luật quy định nên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặt khác trong thời gian nuôi con nhỏ, lao động nữ ít có cơ hội phấn đấu học tập, nâng cao trình độ tay nghề, ảnh hưởng đến chất lượng việc làm, mức thu nhập thấp hơn so với nam giới, nên đã tác động đến cả chủ thể sử dụng lao động và đối tượng lao động nữ. Thứ hai, đặc điểm về sức khoẻ và chức năng sinh học của lao động nữ. Lao động nữ được xếp vào nhóm lao động đặc thù bởi những đặc điểm riêng biệt về thể chất, tinh thần, chức năng sinh học. lao động nữ là người lao động có giới tính là nữ, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới, họ còn đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ và chăm sóc gia đình.
Phụ nữ thường hạn chế về thể lực so với nam giới và có thiên chức mang thai, sinh con, nuôi con. Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề này luôn được coi là “hạn chế của phụ nữ” với tư cách người đi tìm việc. Từ thiên chức này của lao động nữ nên đối với từng quốc gia đã có chính sách riêng phù hợp với lao động nữ. Những đặc trưng riêng về sức khỏe, tính cách, tâm lý và đặc điểm xã hội, đã tác động đến việc làm của họ.
Do tạo hoá, phụ nữ nhìn chung có thể hình nhỏ bé hơn, sức mạnh và độ dẻo dai kém hơn lao động nam nên thường chọn những công việc nhẹ nhàng, ít nặng nhọc, ít độc hại và nguy hiểm. Cũng chính từ đặc điểm này đã dẫn đến sự lựa chọn nghề nghiệp của lao động nữ khác hơn so với nam giới. Về tính cách, tâm lý và đặc điểm xã hội của lao động nữ cũng có những nét riêng tác động đến việc làm của họ: Phụ nữ thường chăm chỉ, chịu khó, kiên nhẫn, 11 khéo léo, thận trọng, miệt mài với công việc nên có những việc làm do lao động nữ đảm nhận thường hiệu quả hơn so với nam giới, ví dụ như ngành tài chính, giáo dục, viễn thông, thương mại, may mặc, làm nghề truyền thống. Theo số liệu điều tra chọn mẫu của Trường cán bộ phụ nữ Trung ương, năm 2010, tỷ lệ phụ nữ đảm nhận công việc nội trợ đạt 87%, số giờ trung bình lao động nữ từ 15 tuổi trở lên là 2,06 giờ/ ngày, trong khi đó số giờ trung bình của dân số nói chung đảm nhận công việc nội trợ là 1,46 giờ.
Từ con số này đã nói lên một thực tế rằng: lao động nữ ở Việt Nam chịu tác động của việc nhận thức về đặc điểm, tâm lý giới tính nên dẫn đến trong phân công lao động gia đình đã hướng các công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em phần lớn đều giao cho phụ nữ đảm nhận. Mặc khác chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, lạc hậu quan niệm rằng: phụ nữ thì phải nội trợ, lo toan, chăm sóc các thành viên trong gia đình. Vì vậy thu nhập cũng như chất lượng lao động của họ thường thấp hơn so với nam giới [23]. Đặc biệt đối với LĐN nông thôn, do điều kiện sống phần lớn chị em gắn bó với đồng ruộng, gắn bó với gia đình, làng xã, nên tâm lý, quan niệm xã hội về việc làm cũng khác nam giới và LĐN ở thành thị.
Họ chỉ nghĩ đến việc làm trước mắt, có nguồn thu đảm bảo cuộc sống hàng ngày, không muốn học nghề dài hạn, không muốn đi làm ăn xa. Chỉ trừ một bộ phận LĐN khó tìm được việc làm phù hợp ở nông thôn hoặc hoàn cảnh khó khăn bắt buộc họ phải di dời lên đô thị kiếm sống. Xuất phát từ đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) của lao động nữ. Bộ Luật Lao động dành hẳn chương X gồm 10 Điều (Điều 109 đến Điều 118) quy định riêng cho lao động nữ nhằm đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt với nam giới.
Người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử trong việc tuyển chọn, nâng bậc lương, xử lý kỷ luật…và đảm bảo những ưu đãi nhất định cho lao động nữ để họ thực hiện tốt chức năng của mình. Thứ ba, sự chênh lệch về trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ giữa lao động nam và nữ còn rất lớn Có thể dễ dàng nhận thấy lao động nữ có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn hẳn so với nam giới “Trình độ học vấn, nghề nghiệp của phụ nữ 12 nhìn chung còn thấp so với nam giới và so với yêu cầu của thời kỳ CNH- HĐH; hơn thế nữa sự chênh lệch về trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở các bậc học ngày càng cao. Gánh nặng công việc gia đình làm cản trở phụ nữ tiến bộ…”[4]. Tỷ lệ lao động nữ ở Việt Nam chưa qua đào tạo chiếm tới hơn 80%.
Năm 2014, phân bổ lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đạt được đã cho thấy trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ còn rất thấp. Tỷ lệ lao động nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 84,1%; sơ cấp nghề 2,1%; trung cấp nghề 3,9%;cao đẳng nghề 2,6%; đại học trở lên 7,2% [9].