CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Lý luận về chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chính sách công Chính sách công (CSC) là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước.
Thông thường người ta hiểu cụm từ “chính sách” khi nó có vai trò, chức năng của “khu vực công” thì được gọi là chính sách công. Vì vậy, trong thực tế nhiều nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau về chính sách công với chức năng, vai trò cũng có sự khác biệt. William Jenkin quan niệm rằng: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó” Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Bình đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Phú Hải- Học viện Khoa học xã hội đã đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về CSC như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền”.
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau: 10 luan an Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế. Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: (i) Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; (ii) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.
Ở Việt Nam, Đảng cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn…Để lãnh đạo toàn diện, biến các định hướng, chỉ đạo chiến lược của mình vào trong hoạt động của Nhà nước khi thực hiện quá trình chính sách công, Đảng ban hành văn bản hàm chứa các nội dung trên dưới dạng Cương lĩnh, nghị quyết, chiến lược, chỉ thị, thông tri, thông báo, kết luận, kế hoạch làm căn cứ dẫn dắt, định hướng các cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên quán triệt, nắm vững và vận dụng thống nhất, sáng tạo vào trong toàn bộ quá trình hoạch định, tổ chức hoặc đánh giá hiệu quả chính sách. Khái niệm hỗ trợ Trong các từ điển Tiếng Việt, khái niệm “Hỗ trợ” được hiểu là sự giúp đỡ hay giúp đỡ thêm của một tổ chức, cá nhân này đối với một cá nhân hay một nhóm xã hội khác chưa đủ điều kiện để ổn định cuộc sống hoặc tiến hành một hoạt động nào đó. Khái niệm về hỗ trợ phụ nữ PTKT Hỗ trợ phụ nữ PTKT là những nội dung hỗ trợ dành riêng cho phụ nữ, chủ yếu là phụ nữ tại các vùng nông thôn, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn có sức lao động hoặc có khả năng lao động nhưng thiếu điều kiện sản xuất trong một thời gian nhất định.
Hỗ trợ phụ nữ PTKT là quá trình tuyên truyền, hỗ trợ phụ nữ về các mặt nhận thức, vốn, tư vấn lựa chọn mô hình kinh tế, nâng cao ý thức và kỹ năng hoạt động nghề để phát triển kinh tế gia đình. Chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế Chính sách hỗ trợ PNPTKT là chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho phụ nữ PTKT theo các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ hỗ trợ theo mục tiêu đã đề ra. Hiện nay, có rất nhiều chính sách nhằm hỗ trợ phụ nữ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo góp phần thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo và nâng cao vị thế người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Các chính sách như: Đào tạo nghề và giới thiệu việc làm, chính sách vay vốn, Đề án 939/CP về hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp… 1.
Mục tiêu chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc giúp đỡ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế góp phần tăng thu nhập ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững. Làm chuyển biến nhận thức tự vươn lên thoát nghèo của phụ nữ thông 12 luan an qua việc hỗ trợ của các chính sách, được các cấp các ngành có liên quan và Hội phụ nữ hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền bững. Đồng thời, qua đó giáo dục ý thức trách nhiệm của phụ nữ trong phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng thân thiện, an toàn với môi trường. Nâng cao nhận thức của phụ nữ về chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về khởi nghiệp, phát triển kinh tế, khơi dậy tinh thần và khả năng sáng tạo của phụ nữ, làm chuyển biến nhận thức tự vươn lên thoát nghèo, thiết thực hưởng ứng phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” của trung ương Hội LHPN Việt Nam phát động.
Đặc trưng về chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT Chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT, nhất là phụ nữ nghèo còn thiếu về nguồn vốn, cũng như các điều kiện kinh doanh khác. Phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn thuộc những hộ được xác định theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và được địa phương thẩm định và ra quyết định công nhận. Tùy theo tình hình của địa phương và tình trạng, nhu cầu của phụ nữ mà các hoạt động hỗ trợ được thực hiện bằng các hình thức khác nhau cho phù hợp, tuy nhiên, một trong những đặc trưng cơ bản nhất của chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT là phụ nữ được hỗ trợ nhưng không phải thế chấp hay bỏ ra bất cứ một khoản chi phí nào. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan tâm tới công nhân lao động; Trình độ, tay nghề của người lao động từng bước được nâng cao, tác phong công nghiệp đang dần đi vào nề nếp; Tiền lương, thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện.
Riêng với lao động 13 luan an nữ, vấn đề bình đẳng giới trong lao động, việc làm, trong đời sống xã hội đã được quan tâm; lồng ghép giới trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, kế hoạch hành động của các ban, ngành, đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp gắn với mục tiêu thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới và thực hiện Nghị Quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, thực hiện giảm nghèo bền vững” là một trong những khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh Quảng Nam lần thứ XV, nhiệm kỳ 2016 - 20121 đã đề ra. Để triển khai thực hiện khâu đột phá này, các cấp Hội Phụ nữ (HPN) trong tỉnh đã phát huy vai trò kết nối, khai thác nguồn lực, hỗ trợ hội viên tham gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới phát triển hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ trong phát triển kinh tế. Thông qua triển khai dự án về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, thúc đẩy thành lập HTX do phụ nữ làm lãnh đạo, tham gia quản lý., các cấp HPN đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia phát triển kinh tế, các chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT đang mở ra nhiều cơ hội cho phụ nữ các địa phương vươn lên, ổn định cuộc sống, khẳng định vai trò, vị thế trong gia đình và ngoài xã hội.
Trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội. Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ 14 luan an tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác.
Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động… Chính nhờ Đảng có sự lựa chọn đường lối đúng đắn cho sự phát triển của đất nước mà vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam không ngừng được nâng cao. Để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ sự ảnh hưởng của phụ nữ tới xã hội thì Đảng và nhà nước ta đã đưa ra những hình thức khen thưởng cho phụ nữ “Giỏi việc nước đảm việc nhà”. Từ thực trạng trên cho thấy, còn nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết để nâng cao hơn nữa chất lượng đời sống, việc làm của phụ nữ.