phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 2 chương 5 tiết. 9 z NỘI DUNG Ch ơng 1 PHỤ NỮ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Quan niệm về phụ nữ và vai trò của phụ nữ 1. Xác định và giới hạn của quan niệm về “Phụ nữ” trong luận văn Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.
Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người. Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái. Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "nữ giới", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn. Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái.
Cách hiểu những từ này còn rất khác nhau, do đó, cần phải chuẩn hóa chúng để tránh những thành kiến, những hiểu lầm hay những sai sót trong việc sử dụng. Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng. Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này.
(Có những cái nhìn khắt khe đòi hỏi một phụ nữ phải trưởng thành trên nhiều phương diện như tâm lý, sinh lý, vị trí trong gia đình, vị trí trong xã hội. Đàn bà có một định nghĩa tương tự, nhưng bản thân nó đã không thể hiện sự trang trọng. Nó cho một cái nhìn bao hàm nhiều mặt, cả về khía cạnh xã hội cũng như bản chất sinh học. Thông thường, chỉ nên sử dụng từ "đàn 10 z bà" khi cần một cái nhìn thật sự trung lập, hoặc muốn thể hiện một thái độ thiếu thiện cảm, một chút kỳ thị đối với nữ giới đó, bởi nó khiến người ta liên tưởng đến những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường gặp ở nữ giới (ví dụ như lắm mồm, ích kỷ, nông cạn.
Nếu so sánh hai từ "phụ nữ" và "đàn bà" thì "đàn bà" được cho là suồng sã hơn, thô thiển hơn, tiêu cực hơn. Ví dụ, khi người Việt nói về một người đàn ông: Tay này "đàn bà" lắm thì có nghĩa chê người đó tính khí “không đàn ông chút nào”, thậm chí còn “quy” về sự yếu đuối, nhỏ nhen. Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên, những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì được gọi là bé gái) nhưng chưa được cho là trưởng thành. Ngoài ra, còn một số từ khác để chỉ đối tượng nữ giới, như "mụ", "thị".
nhưng ít được sử dụng hơn và thường là khi thể hiện thành kiến cá nhân, thậm chí kinh miệt đối với một người phụ nữ nào đó. Thật khó để đưa ra những định nghĩa chính xác, và cũng không nên đưa ra những định nghĩa chính xác một cách quá máy móc. Chúng ta sử dụng các từ này thường dựa trên đánh giá của xã hội và đánh giá của bản thân về một hay nhiều đối tượng nữ giới cụ thể. Trong mỗi trường hợp nhất định, nên cân nhắc chọn cái nhìn nào thích hợp, từ phía xã hội hay từ phía bản thân, hay kết hợp cả hai cái nhìn đó.
Như vậy, quan niệm về phụ nữ mà tác giả sử dụng trong luận văn này là nữ giới đã trưởng thành và có khả năng lao động sản xuất. Vai trò của phụ nữ Thứ nhất, vai trò đối với gia đình và xã hội Từ xưa đến nay, với vai trò người chị, người em gái, người vợ, người mẹ, người bà… - người phụ nữ luôn có vị trí quan trọng trước hết là trong mỗi gia đình và trong xã hội. Lịch sử đã chứng minh rằng, vai trò của người phụ nữ từ xa xưa trong lịch sử nhân loại đã từng được xác định cho dù việc 11 z xác định đó có khác nhau theo mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể.000 năm trước, theo truyền thuyết, Quốc Mẫu Âu Cơ đã kết duyên cùng vua Lạc – dòng dõi rồng, sinh hạ được 100 người con. Trong cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, phụ nữ Việt Nam đã cống hiến rất nhiều và từ các cuộc đấu tranh giành độc lập đó, đã sản sinh rất nhiều nữ anh hùng: Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Hoàng Ngân, Mạc Thị Bưởi,… Trong đó, người phụ nữ Việt Nam được tôn vinh là những anh hùng và những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, được Bác Hồ tặng 8 chữ vàng “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”.
Trong xu thế hội nhập và phát triển, phụ nữ tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò to lớn của mình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Một khi nền kinh tế càng phát triển thì phụ nữ càng có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình biến đổi cách mạng và sâu sắc, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào quá trình biến đổi đó. Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội.Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại. Ở Việt Nam, sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 vai trò của phụ nữ được các quan điểm của Đảng ta và Hiến pháp, pháp luật Nhà nước ta chính thức xác nhận, thực thi và bảo vệ … đúng với chân giá trị con người của nó.
Bác Hồ đã từng nói: Non sông gấm vóc Việt Nam đều do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm rực rỡ. Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị ra ngày 27-7-1993 đã khẳng định: “Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người thầy đầu tiên của con người”; “Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. 12 z Ở việc thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ, phụ nữ là người tạo dựng nên nhân cách con người từ trong bụng mẹ, là “tay hòm chìa khoá", là trung tâm các mối quan hệ tình cảm, là người tích cực nhất trong gia đình, giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, phong tục tập quán tốt đẹp ở làng, thôn, khu phố. Ngày nay, đất nước mở cửa hội nhập quốc tế, kinh tế phát triển, đặc biệt kinh tế hộ gia đình càng có điều kiện phát triển, nhiều nữ doanh nhân làm giàu chính đáng cho gia đình, cho đất nước.
Phong trào làm từ thiện ngày càng lan rộng ra nhiều tổ chức, cá nhân… Song ở nơi này, nơi khác còn phát sinh ra những biểu hiện, những hành vi tiêu cực do ảnh hưởng của đồng tiền, vàng, USD làm khuynh đảo mọi giá trị đạo đức như con bất hiếu với cha mẹ, tình cảm vợ chồng anh em phai nhạt, tệ nạn cờ bạc, nghiện hút… Việc hạn chế, đẩy lùi những tồn tại nêu trên càng đòi hỏi vai trò của người mẹ, người vợ trong gia đình, nhà trường, xã hội rất lớn, đặc biệt người mẹ trực tiếp dẫn con bước qua các cửa ải phi đạo đức và sự ngu dốt, tạo cho con có ý chí, nghị lực vượt khó khăn trong cuộc đời. Thiên chức và xã hội đã trao cho phụ nữ phần việc lớn hơn nam giới trong gia đình, đó là việc sinh nở ra con cái để duy trì nòi giống, nội trợ lo lắng từng bữa ăn, giấc ngủ trong nhà, “nhen lên và canh giữ bếp lửa gia đình” tạo nên sự ấm áp, yên vui làm điểm tựa cho chồng, cho con, cho cháu… bằng cái tâm và đức của mình. Vì vậy, Nhà nước ta, các cấp, các ngành luôn luôn chăm lo cho tế bào xã hội - tổ ấm gia đình; động viên, vun đắp tạo điều kiện cho mỗi gia đình kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa. Thứ hai, vai trò đối với phát triển kinh tế Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, chế độ mẫu hệ đã tồn tại trong một thời kỳ dài.
Đặc trưng nổi bật của chế độ này là phụ nữ đóng vai trò chủ đạo trong gia đình, dòng họ; đồng thời có vai trò to lớn trong sinh hoạt kinh tế và trong đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển của lịch sử, ở các chế độ xã hội khác nhau, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế cũng có 13 z những thay đổi và được thực hiện ở những mức độ khác nhau. Tuy vậy, thông thường, ở tất cả các chế độ xã hội, phụ nữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong gia đình, đảm trách những công việc nội trợ, đồng thời tham gia vào các hoạt động kinh tế như: chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán, làm thuê. để có thêm nguồn thu nhập cho gia đình.
Phụ nữ không những làm kinh tế mà còn là người mẹ, người vợ có trách nhiệm giáo dục con cái, truyền đạt những giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau, hay nói cách khác họ đã có công lao to lớn trong việc lưu giữ và truyền bá văn hóa cho dân tộc. Tìm hiểu về vai trò của phụ nữ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa C. Ăngghen đã rất khách quan khi cho rằng: Sự phát triển của công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những điều kiện khách quan để phụ nữ có thể tham gia vào hoạt động kinh tế của xã hội, mặc dù chỉ đối với phụ nữ vô sản mà thôi. Đây là một xu hướng tiến bộ vì nó góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ, từ đó xã hội có cái nhìn khách quan hơn khi đánh giá vị trí và vai trò của phụ nữ.
Họ không chỉ đảm đương chức năng nội trợ và sinh đẻ đơn thuần, mà còn có khả năng tham gia làm kinh tế, tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình.