MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Dân số và sự gia tăng dân số từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các nƣớc đang phát triển có tốc độ gia tăng dân số nhanh. Các vấn đề thuộc về dân số luôn đi liền với các vấn đề về phát triển bền vững của các quốc gia, tƣơng lai của dân tộc phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm và sự nỗ lực của mỗi cá nhân. Việt Nam sẽ sống trong nghèo đói hay phồn vinh, trong bất công hay bình đẳng, trong bệnh tật hay khỏe mạnh, trong môi trƣờng suy thoái, cạn kiệt hay môi trƣờng mà con ngƣời và thiên nhiên đƣợc sống trong sự phát triển bền vững… điều đó liên quan chặt chẽ đến sự quan tâm của chúng ta tới công tác dân số/KHHGĐ.
Nhƣ một nhà hiền triết đã từng nói “Trái đất này không phải chúng ta thừa hưởng của các bậc tiền bối mà chúng ta mượn trước của thế hệ mai sau, làm tốt công tác dân số có nghĩa là chúng ta để lại cho con cháu chúng ta một trái đất xanh tươi, nơi mà con người và thiên nhiên phát triển một cách hài hòa và cân đối”. Việt Nam hiện là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới với mật độ dân số gấp 1,8 lần Trung Quốc, gấp 10 lần các nƣớc đang phát triển và gấp 5 lần mật độ dân số thế giới. Theo Liên hợp quốc, để cuộc sống thuận lợi bình quân trên 1km2 chỉ nên có từ 35 – 40 ngƣời, mật độ dân số của Việt Nam là 254 ngƣời/km2, gấp 7 lần mật độ chuẩn, mật độ dân số của thành phố Hà Nội là 3.490 ngƣời/km2, gấp 100 lần mật độ chuẩn. Hàng năm Việt Nam có thêm 1,6 triệu trẻ em ra đời và mức sinh vẫn tiếp tục tăng, số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cũng đang không ngừng tăng lên.
Chất lƣợng cuộc sống phụ thuộc trực tiếp vào những việc chúng ta làm nhằm hạn chế sự gia tăng dân số. Ý thức đƣợc tầm quan trọng của công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình nên ngay từ năm 1993 Đảng ta đã nhận định: Dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn z đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống… (3). Sinh con là điều mong muốn của tất cả các cặp vợ chồng, tuy nhiên việc quyết định sinh bao nhiêu con đặc biệt việc sinh nhiều lại là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Thời gian vừa qua, việc sinh con thứ ba trở lên đang trở thành vấn đề “nóng” ở Việt Nam nói chung và huyện Gia Lâm nói riêng, nó không chỉ gây ảnh hƣởng rất lớn đến hạnh phúc mỗi gia đình mà còn ảnh hƣởng đến chất lợng cuộc sống của toàn xã hội.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến vấn đề sinh con thứ ba trở lên bởi sự tăng mạnh nhƣ vậy trong thời gian qua không chỉ gây ảnh hƣởng rất lớn đến tình hình xã hội nói chung và chính sách sinh đẻ của Nhà nƣớc ta nói riêng mà còn gây nên biến động mạnh về quy mô dân số và ảnh hƣởng chung đến tình hình kinh tế, văn hoá xã hội. Từ năm 2003 đến nay, huyện Gia Lâm cũng không tránh khỏi tình trạng chung của cả nƣớc, tỷ lệ sinh con thứ ba tăng đột biến và có nhiều trƣờng hợp là cán bộ công chức, giáo viên, đảng viên. Vậy đâu là nguyên nhân thực sự của thực trạng đó, Pháp lệnh dân số ra đời là nguyên nhân chính hay chỉ là cái cớ cho sự gia tăng dân số đột biến này? Ngay cả các nhà Dân số học đã thừa nhận không thể cắt nghĩa đƣợc các xu thế hiện đại của dân số chỉ bằng các nhân tố lịch sử, kinh tế xã hội và nhân khẩu, hay coi đó là kết quả của của một chính sách dân số nào đó, vấn đề gia tăng dân số nói chung và hành vi sinh đẻ nói riêng còn chịu tác động trực tiếp của các yếu tố tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội. Qua việc tìm hiểu các tài liệu và các nghiên cứu có liên quan, chúng ta thấy những vấn đề các yếu tố tác động đến hành vi sinh đẻ, đến mức sinh và đến sự gia tăng dân số đƣợc nghiên cứu khá nhiều ở nhiều góc độ: dân số học, xã hội học, kinh tế học và tâm lý học….
Tuy nhiên, nghiên cứu về các yếu tố tâm lý tác động đến việc ngƣời dân quyết định sinh con thứ ba trở lên thì chƣa có một nghiên cứu z cụ thể nào. Xuất phát từ những vấn đề đã nêu ở trên, chúng tôi - những ngƣời nghiên cứu khoa học rất tâm huyết với công tác Dân số/KHHGĐ- nhận thấy cần phải có trách nhiệm góp phần vào việc nghiên cứu và kiến nghị tìm giải pháp để thực hiện công tác Dân số/KHHGĐ tốt hơn. Trong giới hạn nghiên cứu, chúng tôi chọn đề tài là “Những yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con thứ ba trở lên của người dân huyện Gia Lâm”. Với mong muốn từ kết quả thu đƣợc không chỉ có ý nghĩa khảo sát thực tiễn mà còn giúp những ngƣời làm công tác dân số – KHHGĐ nhận thức đƣợc những yếu tố tâm lý thực sự tác động đến ngƣời dân trong việc quyết định sinh thêm con thứ ba trở lên, từ đó đề ra đƣợc những kiến nghị về giải pháp nhằm hạn chế đƣợc mức sinh con thứ ba trở lên cao trên cơ sở tác động tích cực vào những yếu tố tâm lý đó.
Ngoài ra, chúng tôi còn hy vọng qua nghiên cứu này góp phần bổ xung cơ sở lý luận của một hƣớng nghiên cứu mới cho phân ngành tâm lý học dân số. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những yếu tố tâm lý: nhận thức, thái độ và hành vi sinh con thứ ba trở lên của ngƣời dân huyện Gia Lâm, đề tài đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần làm giảm và hạn chế việc sinh con thứ ba trở lên trên địa bàn huyện. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đề tài đƣa ra những nhiệm vụ sau: 3. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản (các khái niệm nhận thức, thái độ, hành vi sinh sản, các yếu tố ảnh hƣởng đến việc sinh con thứ ba trở lên).
Tiến hành khảo sát thực tiễn để tìm hiểu về những yếu tố nhận thức, thái độ tác động đến hành vi sinh con thứ ba trở lên của ngƣời dân huyện Gia Lâm. Đề xuất một số kiến nghị góp phần vào việc xây dựng các giải pháp làm giảm và hạn chế việc sinh con thứ ba trở lên. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Những yếu tố tâm lý tác động đến hành vi sinh con thứ ba trở lên của ngƣời dân huyện Gia Lâm (Hà Nội).
Khách thể nghiên cứu - 150 ngƣời dân đã sinh con thứ ba trở lên, trong độ tuổi từ 25-49 tuổi trên địa bàn huyện Gia Lâm. - 10 cán bộ làm công tác DS – KHHGĐ cấp xã, cấp huyện, thành phố. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5. Về nội dung nghiên cứu Có nhiều yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con thứ ba trở lên nhƣng đề tài nghiên cứu chỉ tập trung vào các yếu tố tâm lý nhƣ : Nhận thức, thái độ và hành vi.
Về địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu tại các xã, thị trấn khác nhau trên địa bàn huyện Gia Lâm với các đặc trƣng: + Thị trấn (đại diện là Thị trấn Trâu Quỳ). + Làng thuần nông (đại diện là xã Dƣơng Quang). Về khách thể nghiên cứu z 150 ngƣời đã sinh con thứ ba trở lên trong độ tuổi sinh đẻ (từ 25 đến 49 tuổi). Giả thuyết khoa học 6.
Các yếu tố nhận thức, thái độ là những yếu tố tâm lý tác động đến hành vi sinh con thứ ba trở lên của ngời dân huyện Gia Lâm tuy nhiên trên thực tế có nhiều trƣờng hợp giữa nhận thức, thái độ và hành vi có khoảng cách nhất định (nhận thức tốt, thái độ tốt nhƣng vẫn sinh con thứ ba trở lên). Nếu chúng ta có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục về nhận thức cho ngƣời dân một cách phù hợp về những ảnh hƣởng tiêu cực của việc sinh con thứ ba trở lên và có chế tài xử lý nghiêm khắc những trƣờng hợp vi phạm thì có thể góp phần đáng kể vào việc thực hiện tốt chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn huyện. Phƣơng pháp nghiên cứu Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đề ra các phƣơng pháp cụ thể bao gồm: 7. Phƣơng pháp nghiên cứu văn bản tài liệu.
Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket). Phƣơng pháp phỏng vấn sâu. Phƣơng pháp xin ý kiến chuyên gia. Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp.
Phƣơng pháp thống kê toán học. z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sinh đẻ là yếu tố chính cho sự thay thế sinh học để duy trì xã hội loài ngƣời. Việc dân số đƣợc thay thế thông qua hành vi sinh đẻ là một quá trình phức tạp và chịu ảnh hƣởng của rất nhiều yếu tố, do vậy có rất nhiều các nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực khác nhau hƣớng đến việc lý giải tại sao con ngƣời không ngừng gia tăng hành vi sinh đẻ hoặc vào sự hạn chế số lƣợng con cái, kể cả việc khƣớc từ hoàn toàn việc sinh đẻ. Những kết luận mà các nhà khoa học đƣa ra là rất khác nhau.
Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu tố tác động đến hành vi sinh sản và mức sinh đƣợc đề cập đến khá nhiều. Nhà dân số học Ronald Freedman đã đƣa ra lƣợc đồ phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến mức sinh, ông chia ra thành 3 nhóm yếu tố: yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng sinh đẻ (việc chấp nhận hay không chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai, tỷ lệ kết hôn…), yếu tố trung gian (chuẩn mực xã hội về quy mô gia đình, số con mong muốn của các cặp vợ chồng, quan niệm xã hội về hôn nhân…), yếu tố hạ tầng (mức độ chết, điều kiện kinh tế xã hội…).Theo ông, ba nhóm yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau và thông thƣờng nhóm yếu tố hạ tầng tác động lên nhóm yếu tố trung gian rồi cùng tác động lên nhóm yếu tố trực tiếp và cuối cùng tác động đến mức sinh (18).