Thái độ của trẻ lang thang ở Hà Nội đối với việc sử dụng ma túy

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu thái độ của trẻ lang thang trên địa bàn hà nội đối với việc sử dụng ma tuý, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2003

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.2. Nghiên cứu về thái độ

1.3. Nghiên cứu về vấn đề trẻ lang thang

Tóm tắt

I. Giới thiệu về trẻ lang thang và tình trạng sử dụng ma túy tại Hà Nội

Trẻ lang thang tại Hà Nội đang trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng. Theo thống kê, số lượng trẻ lang thang đã tăng từ 14.596 vào năm 1996 lên 19.000 vào năm 2000. Những trẻ này thường sống xa gia đình, thiếu sự giám sát và dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy. Việc nghiên cứu thái độ của trẻ lang thang đối với ma túy không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tâm lý của các em mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho các chính sách bảo vệ trẻ em. Như một nghiên cứu đã chỉ ra, trẻ lang thang thường có nguy cơ cao bị lạm dụng và tham gia vào các hoạt động phạm pháp, trong đó có việc sử dụng ma túy.

1.1. Tình trạng trẻ lang thang tại Hà Nội

Tình trạng trẻ lang thang tại Hà Nội đang gia tăng đáng kể. Các em thường di chuyển từ các vùng nông thôn đến thành phố lớn để kiếm sống. Sự đô thị hóa nhanh chóng và tình trạng thất nghiệp đã khiến nhiều gia đình không thể nuôi dưỡng con cái, dẫn đến việc trẻ em phải ra ngoài kiếm sống. Theo số liệu từ UNICEF, nhiều trẻ lang thang không chỉ phải đối mặt với đói nghèo mà còn dễ dàng bị lôi kéo vào việc sử dụng ma túy. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình can thiệp kịp thời nhằm bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn này.

II. Thái độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy

Nghiên cứu thái độ của trẻ lang thang đối với ma túy là một lĩnh vực còn mới mẻ tại Việt Nam. Thái độ này bao gồm nhận thức, cảm xúc và hành động của trẻ đối với việc sử dụng ma túy. Các yếu tố xã hội và tâm lý có thể tác động mạnh mẽ đến thái độ của trẻ. Một số trẻ có thể xem việc sử dụng ma túy như một cách để thoát khỏi thực tại khó khăn, trong khi những trẻ khác có thể nhận thức rõ hơn về tác hại của nó. Việc hiểu rõ thái độ này sẽ giúp các nhà nghiên cứu và các tổ chức xã hội có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn trong việc phòng chống ma túy.

2.1. Nhận thức và cảm xúc của trẻ lang thang về ma túy

Nhiều trẻ lang thang có nhận thức hạn chế về tác hại của ma túy. Một số em có thể nghĩ rằng việc sử dụng ma túy là bình thường trong môi trường sống của mình. Cảm xúc của trẻ cũng rất đa dạng, từ sự tò mò đến sự sợ hãi. Một số trẻ có thể cảm thấy bị áp lực từ bạn bè hoặc môi trường xung quanh, dẫn đến việc thử nghiệm với ma túy. Việc nghiên cứu sâu về nhận thức và cảm xúc này sẽ giúp xác định các yếu tố tác động đến thái độ của trẻ, từ đó có thể đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp.

III. Giải pháp và kiến nghị

Để giảm thiểu tình trạng trẻ lang thang sử dụng ma túy, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính phủ và các tổ chức xã hội. Các chương trình giáo dục và hỗ trợ tâm lý cho trẻ lang thang là rất cần thiết. Cần thiết lập các trung tâm hỗ trợ trẻ em lang thang, nơi các em có thể nhận được sự chăm sóc và giáo dục. Đồng thời, cần có các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này. Các chính sách bảo vệ trẻ em cũng cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho trẻ lang thang.

3.1. Các chương trình can thiệp xã hội

Các chương trình can thiệp xã hội cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu cụ thể của trẻ lang thang. Việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tâm lý, giáo dục và nghề nghiệp sẽ giúp trẻ có cơ hội phát triển tốt hơn. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng để tạo ra một môi trường an toàn cho trẻ. Các chương trình này không chỉ giúp trẻ lang thang mà còn góp phần giảm thiểu tình trạng sử dụng ma túy trong cộng đồng.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thái độ của trẻ lang thang trên địa bàn hà nội đối với việc sử dụng ma tuý

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là D.Udơnate đã đưa vào những thực nghiệm để đề ra thuyết tâm thế nhằm khắc phục tính đơn giản, cơ học và quan điểm tính trực tiếp của hành vi. Theo ông tâm thế là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có định hướng của chủ thể là trạng thái trọn vẹn của chủ thể, sẵn sàng tri giác các sự kiện và thực hiện các hành động theo hướng xác định. Tâm thế là trạng thái vô thức xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và tình huống thoả mãn nhu cầu, quy định mọi biểu hiện của tâm lý và hành vi của các nhân, giúp cá nhân thích ứng với điều kiện bên ngoài. Sau này, thuyết tâm thế đã được các đồng nghiệp khác của ông phát triển, ứng dụng trong Tâm lý học tuyên truyền.

Dựa vào đó, người ta đưa ra khái niệm Tâm thế xã hội tương đương với khái niệm Thái độ - Attitude để giải thích hành vi xã hội của con người. -9- z Ngoài trường phái tâm thế, thái độ còn được nghiên cứu trong tâm lý học nhân cách và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nhà tâm lý học MỹV.Miasiev đã đưa ra thuyết thái độ nhân cách coi nhân cách là một hệ thống thái độ. Ông là một trong những người đặt nền móng cho Tâm lý học thái độ theo quan điểm Macxit.

Ông đã khẳng định cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người hiện thực là phản xạ có điều kiện. Dưới góc độ Tâm lý học,thì theo ông thái độ là một trong những hình thức thể hiện tâm lý người, là điều kiện khái quát bên trong các hành động của con người. Ông quy nhu cầu, hứng thú, tình cảm, tính cách, sự đánh giá. đều là thái độ.

Ông coi tất cả các dạng hoạt động tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có thể xem là một dạng nào đó của thái độ như vậy điểm hạn chế của thuyết này chính là chỗ xếp ngang hàng quan hệ xã hội với thái độ và nhận thức, xúc cảm ý chí, thị hiếu, nét tính cách. Nhà tâm lý hoc V. Iadov đã phát triển khái niệm tâm thế, đưa ra lý thuyết hệ thống định vị điều chỉnh hoạt động xã hội của cá nhân , khắc phục các sai lầm của các phương pháp nghiên cứu thái độ và tâm thế như chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trong nhóm nhỏ. Thuyết này đã đưa ra cách tiếp cận hệ thống vào các công trình nghiên cứu thái độ.

Theo thuyết này thì hành vi xã hội của cá nhân dược điều chỉnh bởi hệ thống định vị (Tâm thế, tâm thế xã hội , xu hướng cơ bản của hứng thú, hệ thống định hướng giá trị). Hệ thống định vị này được xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, điều chỉnh hành vi xã hội của cá nhân tương ứng với các điều kiện hoạt động ngày càng được mở rộng và ổn định như các định vị ở thứ bậc cao hơn sẽ quy định các định vị ở thứ bậc thấp hơn. Gần đây khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trù cơ bản của tâm lý học, các nhà tâm lý học Xô viết đã đề cập tới thái độ sử dụng chủ quan của nhân cách, sự hình thành thái độ chủ quan qua hoạt động và giao tiếp. - 10 - z Ở Việt Nam cũng có các công trình nghiên cứu về thái độ.

Thái độ là khái niệm tâm lý khó xác định và gây nhiều tranh cãi, do đó cũng là khái niệm được quan tâm nghiên cứu nhiều. Các tác giả đã nghiên cứu theo nhiều quan điểm và hướng đi khác nhau nhằm : chỉ ra cấu trúc tâm lý của thái độ , mối quan hệ giữa thái độ và hành vi, những yếu tố tác động tới thái độ,tuy nhiên phần lớn lại tập trung nghiên cứu thái độ học tập của học sinh , sinh viên.Những nghiên cứu này đã xác định được một số quan hệ cơ bản về vị trí vai trò của thái độ trong hoạt động dạy và học tại các nhà trường. Đồng thời cũng đã khẳng định thái độ học tập là bộ phận cấu thành , cũng là thuộc tính cơ bản của ý thức học tập , là yếu tố qui định tính tự giác học tập và biểu hiện bằng cảm xúc và hành động tương ứng. Có thể kể tới một số đề tài nghiên cứuvề thái độ như : + Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hoa :"Nghiên cứu thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng mầm non Thanh Hoá." Trong luận án , ngoài việc chỉ ra thái độ của sinh viên đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm , tác giả đã làm rõ các mối quan hệ của thái độ và các thuộc tính tâm lí khác của nhân cách như : ý thức , nhu cầu , hứng thú.

và đặc biệt là với hoạt động. + Tác giả Lê Ngọc Lan đã có nghiên cứu về :"Quan hệ giữa khả năng tự đánh giá phù hợp của học sinh với thái độ học tập và động cơ hoạt động."Trong đó tác giả nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng tự đánh giá năng lực với thái độ học tập. Khả năng đánh giá đúng sẽ dẫn tới một thái độ và động cơ học tập đúng đắn. Thái độ , quan niệm của gia đình đối với việc học tập của con cũng có ảnh hưởng nhiều tới thái độ và động cơ học tập.

+ Luận văn thạc sỹ của tác gỉa Lâm Thị Sang nghiên cứu :" Thực trạng thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng sư phạm Bạc Liêu." Bên cạnh việc chỉ ra thực trạng thái độ của sinh viên với việc rèn luyện - 11 - z nghiệp vụ sư phạm, tác giả đã tập hợp được nhiều quan hệ khác nhau về thái độ , chỉ ra được những đặc điểm , chức năng của thái độ.Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về thái độ học tập như :Tác giả Lê Thị Bừng với đề tài :"Tự đánh giá thái độ học tập của sinh viên sư phạm trong điều kiện có phân cấp học bổng'. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Đức Hưởng ."Nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên đại học an ninh nhân dân"." Nghiên cứu về tính tích cực nhận thức như là thái độ" của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo. Ngoài ra còn có nghiên cứu :"vận dụng các chỉ báo của Frank nghiên cứu tự đánh giá thái độ học tập môn Toán của sinh viên sư phạm" của tác giả Đào Lan Hương. Về phương pháp nghiên cứu thái độ , tác giả Trần Trọng Thuỷ có nghiên cứu :" Phương pháp đo thái độ ,tinh thần trách nhiệm đối với lao động, sự thống nhất về định hướng giá trị của tập thể học sinh" Tóm lại: Đã có một số công trình nghiên cứu về thái độ ở Việt Nam, nhưng phần lớn tập trung vào nghiên cứu thái độ học tập của học sinh ,sinh viên.

Điều đáng lưu ý ở đây là chưa có nghiên cứu nào đề cập tới thái độ đối với hiện tượng sử dụng ma tuý nói chung và của trẻ em lang thang nói riêng. Vì vậy việc chọn đề tài nghiên cứu thái độ đối với việc dùng ma tuý ở trẻ lang thang là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt trong điều kiện hiện nay .2 Nghiên cứu về vấn đề trẻ lang thang. Đề tài của luận văn là nghiên cứu của trẻ lang thang trên địa bàn Hà nội đối với vấn dề sử dụng ma tuý, do đó ngoài việc tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu thái độ, cũng cần làm rõ các nghiên cứu vấn đề trẻ lang thang và thái độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma tuý. Đã có rất nhiều nghiên cứu, khảo sát về vấn đề trẻ lang thang của các tổ chức phi chính phủ như UNICEF.

của các cơ quan làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em của các viện nghiên cứu như viện nghiên cứu Thanh niên. Như - 12 - z nghiên cứu về đặc điểm của trẻ lao động sớm tại Thành phố Hồ Chí Minh của Viện nghiên cứu Thanh niên, trong đó đã đề cập tới nguyên nhân, hoàn cảnh, kinh tế xã hội và điều kiện lao động của trẻ lang thang lao động sớm. Nghiên cứu về hành vi giao tiếp của trẻ lang thang do nhóm tác giả Viện Khoa học Giáo dục kết hợp với Uỷ ban chăm sóc – bảo vệ trẻ em Hà Nội tiến hành. Nghiên cứu này đã chỉ ra những đặc điểm trong quan hệ giao tiếp của trẻ lang thang.

Trên cơ sở đó đề ra những nội dung và biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ lang thang. Từ nghiên cứu này tác giả Hoàng Bích Hường – chuyên viên UB bảo vệ chăm sóc trẻ em Hà Nội đã phát triển và bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ của mình. Khảo sát về thực trang trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Nội do Unicep tài trợ kinh phí năm 1998. Khảo sát này đã đợc tổng kết số trẻ, độ tuổi, trình độ văn hoá, quê quán, giới tính, nghề nghiệp….

của trẻ lang thang tại địa bàn Hà Nội. Nghiên cứu xã hội học về tình trạng trẻ em lang thang sử dụng ma tuý do Viện Nghiên cứu thanh niên tiến hành. Khảo sát về tình trạng trẻ em lang thang và lao động sớm trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng do UB dân số – gia đình và trẻ em Quận Hai Bà Trưng thực hiện với sự giúp đỡ về kinh phí của tổ chức nhân đạo Quốc tế Plan International. Khảo sát này đã chỉ ra thực trạng về số trẻ em lang thang và lao động sớm trên đại bàn Quận Hai Bà Trưng ( về độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp).

Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu chỉ tập trung tìm hiểu nguyên nhân để trẻ đi lang thang , đặc điểm tâm lý của trẻ lang thang và tình trạng trẻ lang thang phải lao động sớm hoặc có nguy cơ vướng vào các TNXH chứ chưa đề cập tới thái độ của trẻ lang thang đối với vấn đề sử dụng ma tuý.TÌNH TRẠNG TRẺ LANG THANG VÀ TRẺ LANG THANG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI CÓ SỬ DỤNG MA TUÝ .Một số vấn đề khái quát về tình hình trẻ lang thang trên địa bàn Hà Nội. Khái niệm trẻ lang thang thường được coi là những trẻ em phải kiếm tiền bằng các hoạt động thường xuyên trên đường phố như đánh giày , bán báo , nhặt rác .trẻ lang thang là hậu quả của sự phân hoá giàu nghèo và quá trình đô thị hoá nhanh chóng .Thực trạng trẻ lang thang ở nước ta ngày càng tănng với tốc độ chóng mặt .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Thái độ của trẻ lang thang ở Hà Nội đối với việc sử dụng ma túy" của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Ngọc Phú, tập trung vào việc nghiên cứu tâm lý và thái độ của trẻ lang thang tại Hà Nội đối với vấn đề ma túy. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tâm lý của nhóm trẻ em dễ bị tổn thương này mà còn chỉ ra những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hành vi và quyết định của họ. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức mà xã hội có thể hỗ trợ và can thiệp để giảm thiểu tình trạng sử dụng ma túy trong nhóm trẻ này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tâm lý học và xã hội, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu về các biểu hiện tâm lý của người chơi game bạo lực", nơi phân tích các biểu hiện tâm lý trong một bối cảnh khác của giới trẻ. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu mô hình công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi tại trung tâm Hà Cầu, Hà Đông, Hà Nội" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các mô hình hỗ trợ trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn. Cuối cùng, bài viết "Mô Hình Công Tác Xã Hội Nhóm Trong Hỗ Trợ Việc Làm Cho Người Sau Cai Nghiện Ma Túy Tại Bắc Ninh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp can thiệp xã hội đối với những người đã trải qua vấn đề nghiện ngập. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề xã hội liên quan đến trẻ em và thanh thiếu niên.