MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Theo báo cáo của Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống ma túy, đối tượng sử dụng ma túy đang ngày càng tăng. Thống kê cho thấy từ năm 2010 - 2017, trên thế giới, số người sử dụng ma túy trong độ tuổi 15 - 64 đã tăng từ 226 triệu người lên 255 triệu người, chiếm 5% số người trong độ tuổi này trên toàn cầu. Trong đó có 32,5 triệu người sử dụng các loại ma túy gốc thuốc phiện đã qua điều chế, 16,5 triệu người sử dụng thuốc phiện tự nhiên, 37 triệu người sử dụng Amphetamine, 22 triệu người sử dụng Ecstasy và 183 triệu người sử dụng cần sa[48]. Tại Việt Nam, số liệu báo cáo của Bộ Công an về thực hiện công tác phòng chống tệ nạn ma túy, tính đến hết năm 2017 toàn quốc có 222.582 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng 11.831 người so với năm 2016.Người nghiện có ở tất cả các địa phương, ở mọi thành phần, lứa tuổi song chủ yếu là lớp trẻ; khoảng 50% người nghiện có các vấn đề về sức khỏe tâm thần.
Hiện nay, gần 2/3 thanh niên nghiện ma túy không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định, đây là vấn đề nan giải trong việc giải quyết tình trạng nghiện và giải quyết việc làm cho thanh niên trong bối cảnh dư thừa lao động hiện nay. Nghiện ma túy cũng là tác nhân chủ yếu làm thanh niên vi phạm pháp luật. Tỷ lệ vi phạm pháp luật trong thanh niên nghiện ma túy khoảng 50% và gấp hơn 100 lần so với nhóm thanh niên không nghiện. Tỷ lệ phạm nhân phạm tội về ma túy trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ là 41,04%, tỷ lệ phạm nhân có tiền sử nghiện ma túy là 28,25%.
Đây là thực tế cần quan tâm khi xây dựng chính sách đối với người sử dụng, người nghiện ma túy, không chỉ xem trọng khía cạnh y tế mà cần cân nhắc trọng tâm là các khía cạnh xã hội và đảm bảo an toàn xã hội để đảm bảo tính toàn diện[47]. Tính đến ngày 15/5/2018, tại địa bàn tỉnh Bắc Ninhcó 1.089 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, trong đó có 320 người trong Trại tạm giam; 8 z 57 người đang điều trị tại Cơ sở cai nghiện ma túy; 712 người đang sống ngoài xã hội. Bắc Ninh hiện có 117/126 xã, phường, thị trấn có người nghiện[47]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỉ lệ người nghiện đã được cai lại mắc nghiện trở lại vẫn cao.
Có nhiều nguyên nhân như: người nghiện không đủ bản lĩnh để từ bỏ ma tuý mặt khác người nghiện vẫn bị xã hội xa lánh, kỳ thị, họ không nhận được sự cảm thông, chia sẻ của những người xung quanh. do thiếu việc làm[48]. Để giúp người sau cai nghiện hoà nhập cộng đồng thành công, việc hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội, nhằm giúp đối tượng trở về với cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy. Trên thực tế giải quyết việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế.
Hằng năm số đối tượng được tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị phục hồi. Nhìn chung tình hình việc làm của các đối tượng sau cai là không thuận lợi. Các đối tượng ở thành phố thị xã có việc làm ổn định cao hơn các đối tượng ở nông thôn. Từ thực tế giải quyết hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi là một việc làm hết sức cấp thiết.
Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:“Mô hìnhcông tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy: thực tiễn từ Trung tâm chữa bệnh và Giáo dục lao động xã hội Tỉnh Bắc Ninh”làm đề tài nghiên cứu cho luận văn. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu ngoài nƣớc Có rất nhiều nghiên cứu quốc tế đề cập đến tình hình sử dụng ma tuý, những tác hại của ma tuý và những mô hình hỗ trợ, can thiệp người sử dụng 9 z ma tuý. Những nghiên cứu này đưa ra bài học hữu ích cho Việt Nam trong việc đánh giá và hỗ trợ người nghiện ma tuý và người sau cai nghiện ma tuý.1 Các nghiên cứu về tình hình nghiện ma tuý Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy tự nhiên, mà đại diện điển hình là thuốc phiện, đã xuất hiện từ rất lâu trước đây.
Hơn 8000 năm trước đây, thuốc phiện đã được người Somai ở Tây Á sử dụng, người ta đã biết được những khoái cảm và sự thoải mái hết sức mà thuốc phiện mang lại khi dùng [57].Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma túy tự nhiên đã trở thành thói quen và tập tục của nhiều dân tộc ở nhiều vùng đất khác nhau. Từ khi phát hiện ra tác dụng kích thích của các loại ma túy tự nhiên cũng như tổng hợp, số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng. Việc sử dụng ma túy gắn bó chặt chẽ tới cảm giác của con người, tới cuộc sống tâm lý của họ. Trên phương diện xã hội, ma túy đã gây ra những tác hại rất lớn.
Chính vì thế cuộc chiến chống tệ nạn ma túy đã có từ lâu đời và nhiều thế kỷ. Theo Báo cáo Tình hình Ma túy Thế giới năm 2018,có khoảng 275 triệu người trên toàn thế giới, chiếm khoảng 5,6% dân số thế giới trong độ tuổi 15-64, đã sử dụng ít nhất một lần trong năm 2016. Có khoảng 31 triệu người sử dụng ma túy mắc các chứng rối loạn, cần được điều trị. Ước tính ban đầu cho thấy rằng, trên toàn cầu, có 13,8 triệu người trẻ tuổi từ 15-16 tuổi sử dụng cần sa trong năm qua, tương đương với khoảng 5,6%.Số người nghiện ma túy ở khu vực châu Á nhiều nhất, sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và châu Đại dương[70].
Cũng theo Báo cáo của WHO năm 2018, có khoảng 450.000 người chết do hậu quả của sử dụng ma túy trong năm 2015.750 người chết có nguyên nhân trực tiếp từ việc sử dụng ma túy quá liều. Số còn lại do hậu quảcủa việcsử dụng ma túy và gồm cả chết liên quan đến HIV, viêm gan C do sử dụng chung kim tiêm. Theo thống kê có khoảng 76% số người chết 10 z có liên quan đến các rối loạn sử dụng ma túy. Số người tiêm chích ma túy chiếm khoẳng khoảng 10,6 triệu người trên thế giới trong năm 2016, chịu đựng những rủi ro lớn nhất về sức khỏe.
Hơn một nửa trong số họ phải sống chung với viêm gan C và 1/8 sống chung với HIV[70]. Bên cạnh đó, ma túy còn gây mất trật tự xã hội với tệ nạn buôn bán ma túy của các băng đảng tội phạm. Đồng thời, sử dụng ma túy cũng gây tổn thất lớn về kinh tế. Nhìn chung tình hình nghiện ma tuý trên thế giới đã và đang ở mức báo động do số lượng người nghiện ra tăng và những ảnh hưởng của nghiện ma tuý đối với các cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, khu vực và quốc tế.Theo chương trình kiểm soát ma túy của Liên Hợp Quốc (UNDCP) thì “Tình trạng nghiện hút đã trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại.
Không một quốc gia nào, dân tộc nào có thể thoát khỏi vòng xoáy khủng khiếp của nó, ma túy làm gia tăng bạo lực, tham nhũng, làm cạn kiệt nguồn nhân lực, tài lực, hủy diệt những nguồn tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động để phát triển kinh tế - xã hội, mang lại ấm no, hạnh phúc cho toàn dân”[Dẫn theo, 25]. Nghiên cứu của Brook (1990), Hawkin (1992) ở Mỹ chỉ ra các yếu tố quan hệ với bạn bè trong xã hội cũng có ảnh hưởng rất lớn với việc sử dụng ma túy và Alcohol ở trẻ. Nghiên cứu của Dons (1985), Kocach và Glichman (1986); Shilter (1991)… cho thấy việc sử dụng chất gây nghiện và gây nghiện của trẻ vị thành niên gắn với các tri giác của việc sử dụng ma túy ở bạn bè [70]. Madanes, C (1981) đã xác nhận rằng trong gia đình người nghiện ma túy thì sự đảo lộn trật tự thứ bậc là một đặc trưng.
Một số tác giả cũng phát hiện ra trong gia đình người nghiện ma túy nổi bật lên các hành vi vi phạm công khai hoặc tiềm ẩn và những lời phê phán về nguyên tắc và điều cấm trong xã hội [68].2 Các nghiên cứu tiếp cận giải quyết vấn đề cai nghiện ma tuý Việc nghiên cứu vềngười sau cai nghiện ma tuý (NSCNMT) đã giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế thới, với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để các nhà 11 z CTXHnghiên cứu các mô hình CTXH nhóm hỗ trợ việc làm cho người sau nghiện ma túy như: Cách tiếp cận phân tâm học: Cách tiếp cận này được hình thành ở Pháp, theo thuyết này thì việc dùng ma túy có liên quan tới các xung đột và các rồi nhiễu trong quá trình phát triển. Theo cách tiếp cận nhận thức xã hội, A.Bandura là một đại diện, theo ông nhận thức về khả năng của mình là khái niệm trung tâm của sự điều chỉnh hành vi của bản thân. Khái niệm “cái tôi hiệu quả” (Self-efficacy) do ông đưa ra được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực nghiện.
Theo ông “cái tôi hiệu quả” là khả năng thực sự có thể làm một việc gì đó, là sự đánh giá của con người về khả năng của mình trong việc hoàn thành các nhiệm vụ phù hợp với các hoàn cảnh khác nhau [61]. Theo các nhà tâm lí trị liệu nhận thức:Đại diện tiêu biểu và cũng là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tâm lí trị liệu nhận thức ở Mỹ là Callahan. Ông có cách tiếp cận khác đến vấn đề nghiện. Ông cho rằng nguyên nhân của nghiện ngập và thôi thúc một số người sử dụng các chất gây nghiện chính là những cảm xúc tiêu cực mà họ phải trải nghiệm.
Callahan (1997) [62] đã phát hiện ra mỗi liên hệ giữa nghiện và sợ hãi. Việc phát hiện này đã giúp ông tìm ra một phương pháp chữa trị cho hầu hết các loại nghiện. Nội dung của phương pháp trị liệu này là tìm cách vượt qua được sự sợ hãi. Ông gọi đó là liệu pháp trường tư duy.