Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái niệm và sự cần thiết của việc quy định tội mua bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội phạm.
Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về tội phạm như sau: “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Khoản 1 của Điều luật xác định khái niệm tội phạm một cách khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước về tội phạm. Nó không chỉ là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong việc phân loại các tội phạm của BLHS mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng những điều luật quy định về từng loại tội phạm cụ thể. Nếu như Điều 1 của Bộ luật Hình sự nêu lên những quan hệ xã hội chung quan trọng nhất được Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm thì khoản 1 Điều 8 đã cụ thể hóa những quan hệ xã hội đó thành những khách thể của tội phạm.
Đó là: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của luật Hình sự. Việc đưa ra khái niệm này cho phép phân biệt hành vi nào là tội phạm hành vi nào không phải là tội phạm. Các luật gia tư sản nhấn mạnh tính hình thức của tội phạm.
Cụ thể họ cho rằng: Tội phạm là hành vi bị luật Hình sự cấm hoặc là “Vi phạm pháp luật bị Bộ luật Hình sự trừng trị”: (BLHS Pháp 1810) hoặc là “Hành vi do luật Hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” (BLHS Thụy Sĩ năm 1937). Như vậy, yếu tố luật Hình sự quy định, luật Hình sự cấm, luật Hình sự trừng trị là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Điều này hết sức nguy hiểm ở chỗ nhiều khi nó cho phép nhà làm luật đưa ý chí chủ quan của mình vào việc quy định hành vi nào là tội phạm. Tuy nhiên, yếu tố luật định của tội phạm mà luật Hình sự tư sản đưa ra đã cho thấy được tiến bộ vượt bậc.
So với luật Hình sự phong kiến tránh được sự tùy tiện khi coi một hành vi nào đó là tội phạm. Được quy định tội phạm luật Hình sự hay Bộ luật Hình sự 7 chỉ là dấu hiệu hình thức của tội phạm. Tội phạm còn được xác định thông qua dấu hiệu về mặt nội dung. Đó là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội”.
Tuy nhiên đánh giá thế nào là nguy hiểm cho xã hội là vấn đề cần được làm sáng tỏ nếu không dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ tội phạm gồm: – Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại – Hậu quả do hành vi phạm tội gây ra – Tính chất và mức độ lỗi: các hình thức lỗi, các dạng lỗi, động cơ mục đích phạm tội… – Các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm tội. Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam còn có một yếu tố mà nhà làm luật xem như một trong những yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là yếu tố nhân thân người phạm tội. Ví dụ yếu tố “Đã bị xử lý hành chính”… Đây là vấn đề đang tranh luận trong khoa học luật Hình sự.
Bởi lẽ việc quy định yếu tố nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phù hợp với nguyên tắc chung của luật Hình sự. Đó là nguyên tắc: “Một người không thể bị xử phạt hình sự về nhân thân xấu của họ”. Tội phạm còn được thể hiện thông qua dấu hiệu: Năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là đặc tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái niệm tội phạm.
Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức và điểu được hành vi của mình. Điều đó cho thấy cho dù gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó nhưng nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức được hành vi, không điều khiển được hành vi thì hành vi đó không là hành vi tội phạm. Tính có lỗi: Tội phạm luôn là hành vi có lỗi. Cũng có lúc, có Bộ luật Hình sự coi những hành vi không có lỗi là tội phạm.
Đây được gọi là nguyên tắc “quy tội khách quan” – chỉ căn cứ vào hành vi để buộc tội trong khi tội phạm là tổng hợp các yếu tố chủ quan và khách quan. Yếu tố khách quan là các hành vi, yếu tố 8 chủ quan là lỗi. Lỗi có một quá trình hình thành từ khi phát sinh những nhu cầu, xác định động cơ, mục đích, nhận thức các yếu tố chủ quan, khách quan của hành vi và cuối cùng là lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi. Như vậy, căn cứ vào Điều 8 BLHS có thể đưa ra khái niệm tội phạm một cách khái quát: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện, có lỗi được quy định trong BLHS.
Khái niệm chất ma túy Từ xưa do nền y học còn hạn chế nên chữa bệnh chủ yếu bằng các cây, cỏ có trong tự nhiên, người ta đã phát hiện ra một số loại cây như: thuốc phiện, cây cocain, cây cần sa chữa được một số bệnh rất hiệu quả. Nhưng loại “dược phẩm” này sẽ thành “chất độc” nếu lạm dụng, sử dụng không chính đáng, nó làm cho con người mê mẩn, ngây ngất, không làm chủ được hành vi, vi phạm pháp luật, hành xử lệch lạc chuẩn mực đạo đức xã hội, bị xã hội lên án. Hiện tại, chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về ma túy hay chất ma túy. Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới năm 1982: “Ma túy, theo định nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hóa học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khỏe bình thường, việc sử dụng những chất đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật”[52].
Một số chuyên gia đưa ra những định nghĩa về ma túy như: “ Ma túy là chất tự nhiên hoặc hóa học hợp thành, khi hấp thụ vào con người thì gây nguy hại cho con người.” Bên cạnh đó cũng có định nghĩa khác như: “Ma túy là chỉ thuốc phiện, heroin, morphine, marijuana (đại ma), coocain và những dược phẩm ma túy và dược phẩm tinh thần có thể gây nghiện cho con người. Ở Viêt Nam chất ma túy xuất hiện khá muộn. Cụm từ chất ma túy chính thức quy định lần đầu tiên tại điều 203 BLHS 1985 : “Tội tổ chức sử dụng ma túy”, Điều 185i: “Tội tổ chức sử dụng ma túy” trong luật sửa đổi bổ sung một số 9 điều BLHS được Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10-5-1997. Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, Nghị định số 141/HĐBT năm 1991 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự song chưa đưa ra được định nghĩa.
Tiếp theo là BLHS 1999 đã quy định chất ma túy, tội phạm ma túy. Theo đó chất ma túy bao gồm: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca, lá hoa, quả cần sa, lá cây cooca, quả thuốc phiện khô, thuốc phiện tươi, heroin, coocain, các chất ma túy khác ở thể lỏng, các chất ma túy khác ở thể rắn. Các chất ma túy khác là những chất ma túy không được nêu trong BLHS mà nằm trong các danh mục được quy định tại nghị định 67/NĐ-CP ngày 1-10-2001 của chính phủ. Theo Luật phòng, chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008), tại khoản 1, Điều 2 quy định về chất ma túy: “1.
Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chấthướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành”.