CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái quát lập pháp hình sự Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 3/9/1945, trong phiên họp Chính phủ bàn về “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” gồm có sáu nhiệm vụ cấp bách trong đó nhiệm vụ thứ năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế: Thuế thân, thuế chợ, thuế đò và "tuyệt đối cấm hút thuốc phiện". Tiếp sau đó, ngày 05/3/1952 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện.
Điều 1, 2, 3, 4 của Nghị định quy định khoanh vùng trồng cây thuốc phiện, theo đó cây thuốc phiện chỉ được trồng ở thượng du Bắc bộ, Liên khu 4. Người trồng cây thuốc phiện có nghĩa vụ nộp thuế bằng hiện vật là một phần ba số nhựa thuốc phiện, phần còn lại phải bán toàn bộ cho mậu dịch quốc doanh. Điều 5 Nghị định quy định: “Ngoài cơ quan chuyên trách, không ai được tàng trữ và vận chuyển nhựa thuốc phiện hay thuốc phiện đã nấu rồi”. Trên cơ sở Nghị định 150/TTg, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 225/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện của Nhà nước sẽ bị xử phạt hoặc bị truy tố trước Tòa án nhân dân.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Sau khi hòa bình lập lại và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục quan tâm đến việc xây dựng hệ thống pháp luật mới, trong đó có công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc phiện và các chất ma túy khác. Ngày 15/09/1955, Chính phủ ban hành nghị định số 580/TTg bổ khuyết Nghị định 7 150/TTg ngày 05/3/1952 quy định những trường hợp có thể bị đưa ra Tòa án nhân dân xét xử. Bộ tư pháp còn ban hành Thông tư số 635/VVH-HS ngày 29/3/1958 quy định về đường lối truy tố đối với việc đặt cọc tiền mua thuốc phiện lậu và Thông tư số 33/VHH-HS ngày 5/7/1958 hướng dẫn đường lối truy tố và xét xử những vụ án về buôn lậu thuốc phiện.
Sau khi miền Nam giải phóng, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/CP ngày 25/3/1977 về chống buôn lậu thuốc phiện. Trên cơ sở nghị định này, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ra Thông tư liên ngành hướng dẫn áp dụng pháp luật trong cả nước. Trước tình hình tội phạm về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, BLHS năm 1985 ra đời đã có thái độ kiên quyết hơn đối với loại tội phạm này theo hướng cụ thể hóa và tăng cường hình phạt đối với loại tội phạm này. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII (từ ngày 21-6 đến ngày 27-6-1985), Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua.
Theo BLHS năm 1985 thì chỉ có một điều (Điều 203) quy định riêng về “tội tổ chức dùng chất ma tuý”, còn hành vi mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới thì bị truy cứu TNHS theo Điều 97 BLHS “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” và nếu mua bán, vận chuyển trái phép ma túy trong nội địa thì bị truy cứu TNHS theo Điều 166 BLHS “Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm”. Do không đánh giá đúng tính chất đặc biệt nguy hiểm của hành vi buôn bán, tàng trữ thuốc phiện và các chất ma túy khác cho nên đã coi ma túy là đối tượng được pháp luật hình sự điều chỉnh ngang hàng với ngoại tệ, kim khí đá quý và chỉ quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội này là 20 năm tù. Bên cạnh đó, Điều 166 BLHS cũng chỉ đề cập về TNHS đối với các hành vi buôn bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành vi sản xuất, vận chuyển trái phép chất ma túy trong nội địa không bị truy cứu TNHS. Trước tình hình đó, ngày 28/12/1989 Quốc hội đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, trong đó quy định Điều 96a - Tội sản xuất, tàng 8 trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy, đặt trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia, với ba khung hình phạt rất nghiêm khắc, loại hình phạt cao nhất có thể bị áp dụng là tử hình; Điều 203 “Tội tổ chức dùng chất ma túy” có mức hình phạt cao nhất đến mười năm tù [23].
Đến khi ban hành Hiến pháp năm 1992, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã đánh giá được đúng mức tính chất, mức độ nguy hiểm và những ảnh hưởng lớn của các hành vi sử dụng, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma túy đến đời sống của toàn nhân dân, việc đấu tranh ngăn chặn ma túy cũng được quy định trong Hiến Pháp 1992 tại Điều 61: “…Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác. Nhà nước quy định chế độ cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm khác” [29]. Cụ thể hóa những tư tưởng trong Hiến pháp 1992, Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách hình sự đối với các tội phạm về ma túy. Trong lần sửa đổi, bổ sung năm 1997, BLHS có thêm một chương mới – Chương VIIA các tội phạm về ma tuý với 14 điều luật, quy định 13 tội danh khác nhau liên quan đến ma tuý thay thế Điều 96a và Điều 203, trong đó các hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định thành 4 tội riêng biệt; 9/13 tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình.
Cụ thể các tội danh gồm: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (Điều 185a); Tội sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 185b); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 185c); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 185d); Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 185đ); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 185e); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 185g); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185h); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185i); Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185k); tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185l); Tội cưỡng, bức lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m); Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (Điều 185n) [24]. 9 BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Tuy nhiên, qua 15 năm thi hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung nhưng BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế và không còn phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu cần phải được sửa đổi một cách toàn diện. Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS 1999, có hiệu lực từ 0h ngày 01/07/2000.
Theo đó, các tội phạm về ma túy được quy định thành một chương riêng là Chương XVIII, gồm 10 tội, từ Điều 192 BLHS đến Điều 201 BLHS, trong đó Điều 194 quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý [25]. Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII ban hành BLHS 2015 theo đó tội mua bán trái phép chất ma túy được tách thành tội riêng và được quy định tại Điều 251 BLHS [27]. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [25].
10 Theo Thạc sĩ Đinh Văn Quế: “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chất ma túy” [21, tr.