CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Những vấn đề lý luận về tội mua bán trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm chất ma túy Danh từ “ma túy” được đề cập nhiều trên hệ thống thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên hiện nay, trên thế giới và trong nước chưa có một khái niệm thống nhất về “ma túy” và “chất ma túy”. Tại Việt Nam, có nhiều tài liệu đề cập đến khái niệm “ma túy” hoặc “chất ma túy” dưới nhiều góc độ khác nhau như: “Ma túy là tên gọi chung các chất kích thích, gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện như thuốc phiện, Hêrôin” [79, tr. “Ma tuý là hợp chất khi đưa vào cơ thể sống có tác dụng làm thay đổi một hay nhiều chức năng của cơ thể” [70, tr. Theo tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Như Chiến thì “Ma túy là những chất tự nhiên hay tổng hợp làm ức chế, kích thích thần kinh hoặc gây ảo giác, gây ra những biến đổi về tâm sinh lý và thể chất, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra tính lệ thuộc đối với người sử dụng và được quy định trong các Danh mục do Chính phủ ban hành” [36, tr.
Theo GS, TS Nguyễn Xuân Yêm thì “Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó. Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ bị lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng” [93, tr. Khoản 1 Điều 2, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 (sửa đổi, bổ sung 2008) quy định: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các Danh mục do Chính phủ ban hành” [47. tr, 1], qua đó cho thấy rằng 6 cụm từ “chất ma túy” được định nghĩa và giải thích gián tiếp qua các khái niệm chất gây nghiện và chất hướng thần.
Có thể thấy rằng các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm về “ma túy” hay “chất ma túy” đã có nhiều cách tiếp cận, lý giải khác nhau, nhưng chưa thống nhất cách gọi tên “ma túy” hay “chất ma túy” đồng thời nội hàm khái niệm cũng chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, các quan điểm nêu trên đã đưa ra được thuộc tính chung nhất của “ma túy” hay “chất ma túy” đó là tính chất gây nghiện, chất hướng thần có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, được quy định trong các Danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm chất ma túy như sau: Chất ma túy là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được quy định trong các Danh mục do Chính phủ ban hành, các chất này khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó. Nếu lạm dụng, người sử dụng sẽ lệ thuộc vào ma túy, khi đó sẽ gây tác hại về nhiều mặt cho chính bản thân họ và có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy Ngoài quy định chi tiết tại Mục 3, Phần II, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày 24/12/2007 quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 (gọi tắt là Thông tư 17). Đến nay đã có nhiều tài liệu khác nhau đưa ra cách giải thích về từ “mua” và từ “bán” hay cả cụm từ “mua bán”. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng năm 1997 thì “mua là dùng tiền bạc đổi hàng hóa, vật chất, danh lợi” [91, tr.657] “bán là đem đổi vật dụng cho người khác để lấy tiền về, “mua bán” là mua và bán, trao đổi hàng hóa nói chung” [91, tr. Khi định nghĩa về tội phạm này, một số nhà chuyên tâm nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm như: Tác giả Lê Cảm cho rằng: “Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào” [9, tr.473] Theo tác giả Trần Mạnh Hà: “Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bán 7 trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc nguồn gốc ma túy do đâu mà có) hoặc hành vi trao đổi ma túy như một hàng hóa có giá trị” [25, tr.
Còn thạc sĩ Lê Nguyễn Minh Tâm thì: “Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bán trái phép chất ma túy hoặc nhằm bán trái phép chất ma túy cho người khác” [55, tr.10] Như vậy, nhìn chung các nhà khoa học và nhà làm luật có hai quan điểm khác nhau về tội MBTPCMT: Một là, nêu một cách chung chung chưa thể hiện rõ nội hàm của tội phạm này, nên chưa thể xác định được các hành vi phạm tội một cách chính xác. Hai là, được nêu lên theo cách liệt kê các hành vi cụ thể để cấu thành tội phạm (CTTP) theo quy định của Thông tư 17 làm cho khái niệm tội MBTPCMT trở nên dài dòng hoặc rời rạc, chưa kết nối được các nội dung lại với nhau. Qua việc nghiên cứu, kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những quan điểm đó, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội MBTPCMT như sau: “Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bán, trao đổi hoặc nhằm bán trái phép chất ma túy cho người khác, hoặc hành vi tổ chức, thực hành, xúi giục, giúp sức cho người khác trong việc bán, trao đổi chất ma tuý mà không cần xét đến nguồn gốc chất ma tuý do đâu mà có”. Ý nghĩa của việc quy định tội mua bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi liên quan đến ma túy mà các Công ước quốc tế đã đề cập, tạo nên sự thống nhất hợp lý trên cơ sở luật pháp quốc tế với hệ thống pháp luật quốc gia để xử lý về hình sự đối với các hành vi MBTPCMT.
Tạo ra những điều kiện thuận lợi trong hợp tác quốc tế trên lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ma túy nói chung và tội phạm MBTPCMT nói riêng, vì hầu hết các quốc gia đều có quy định về tội phạm ma túy trong đó có tội MBTPCMT. Thứ hai, góp phần hạn chế việc thực hiện các hành vi MBTPCMT trên thực tế vì việc xử lý hình sự các hành vi này có tác dụng vừa giáo dục, cải tạo vừa trừng phạt người phạm tội MBTPCMT để họ trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng 8 răn đe những người có ý định phạm tội, chuẩn bị hoặc đang phạm tội từ bỏ con đường phạm tội, những người đã phạm tội hạn chế hoặc không tái phạm. Thứ ba, góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, mọi hành vi MBTPCMT đều là vi phạm pháp luật hình sự và phải bị xử lý về hình sự, với những hình phạt nghiêm khắc đối với tội MBTPCMT sẽ làm cho mọi người hiểu về tính chất nguy hiểm của các hành vi phạm tội này. Thứ tư, việc xử lý về hình sự đối với các hành vi MBTPCMT sẽ đạt được mục đích của việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Mục đích của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm là hạn chế, ngăn chặn, giảm bớt tội phạm; loại trừ tội phạm và làm cho tình hình tội phạm ổn định [90]. Việc xử lý hình sự đối với tội phạm này sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tóm lại, việc quy định tội MBTPCMT trong Luật hình sự Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và có tính tất yếu cả về lý luận và trong thực tiễn của đời sống xã hội. Những quy định này không chỉ phản ánh trung thực các điều kiện kinh tế - xã hội và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay, mà còn thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta cũng như nỗ lực của toàn thể dân tộc Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề phức tạp và cấp bách mang tính toàn cầu: Tệ nạn ma túy và tội phạm mua bán trái phép chất ma túy.
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định tội mua bán trái phép chất ma túy - Giai đoạn trước năm 1945 Những năm đầu thế kỷ thứ XIX, chính quyền Nhà Nguyễn quyết tâm diệt tận gốc vấn nạn này và đã ban hành các chính sách “lấp nguồn, cạn dòng”. Tháng 6 năm 1873, trước tệ nạn nghiện thuốc phiện, buôn bán thuốc phiện ngày càng tăng. Triều đình lại ban hành trở lại lệnh “Cấm thuốc nha phiến” nhưng những biện pháp này đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Giai đoạn này chưa có sự quy định rõ ràng, cụ thể về tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự năm 1985 9 Ngày 03/9/1945, trong phiên họp Chính phủ bàn về “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo “…Tôi đề nghị tuyệt đối cấm thuốc phiện” [94, tr. Trải qua nhiều mốc thời gian, nhận thấy, trong giai đoạn này pháp luật hình sự Việt Nam chưa được hệ thống hóa một cách chính thức. Các văn bản quy phạm pháp luật đơn ngành không thể hiện được tính toàn diện, đầy đủ và thống nhất chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý tội phạm về ma túy. Vì vậy, việc ban hành một BLHS hoàn chỉnh, có tính hệ thống là vấn đề khách quan, bức thiết và có ý nghĩa quan trọng và BLHS 1985 ra đời đáp ứng yêu cầu đó.
- Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự năm 1999 BLHS 1985 đã bước đầu quy định về các tội ma túy, qua nhiều lần sửa đổi, ngày 10/5/1997 Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung (lần thứ 4) một số điều BLHS 1985. Lần này các tội phạm về ma túy được quy định thành một Chương riêng đó là Chương VIIA: “Các tội phạm về ma túy” gồm 14 điều từ điều 185a đến Điều 185o quy định 13 tội danh.