Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ 1. Khái niệm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý 1. Khái niệm về chất ma tuý Ngày nay thuật ngữ về ma tuý được sử dụng rộng rải trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, thuật ngữ, ma túy, chất ma túy, tội phạm về ma túy được quy định trong các công ước của Liên hiệp quốc và trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới.
Trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy thường được hiểu với các nghiệm như: tình trạng nghiện ma túy, người nghiện ma túy, tiêm chích ma túy. Tuy nhiên do phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến đời sống vật chất tinh thần của con người ngày càng được nâng lên, đặc biệt là từ những năm giữa thế kỷ XX đến nay nhu cầu vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân đáng chú ý là giới trẻ ngày càng cao do đó xuất hiện tình trạng lạm dụng việc sử dụng các loại cây cỏ có tính chất gây nghiện trước đây. Xuất phát từ nhu cầu ngày càng lớn của xã hội, các đối tượng phạm tội đã sử dụng những thành tựu của khoa học để điều chế, chế suất các loài cây cỏ, hoa, quả, nhựa có tính năng chữa bệnh và vui chơi giải trí thành các chất gây nghiện, chất hướng thần có lượng độc tố cao, tạo thuận lợi cho việc sử dụng, tàng trữ, vận chuyển, mua bán và thuật ngữ ma túy được hình thành và ra đời. Vậy ma túy là gì? - Theo từ điển Hán Việt thì “ma” Có nghĩa là tê liệt hoặc “làm mê mẫn” hoặc làm cho “tê liệt”, “tuý” có nghĩa là say “ma túy” là một danh từ dùng để chỉ chất thuốc có khả năng gây ra hiện tượng thần kinh tê liệt dùng nhiều sẽ bị nghiện.
Nghiên cứu khái niệm ma túy nêu trên mặc dù được giải nghĩa theo nghĩa Hán Việt mang tính nôm na dễ hiểu và còn sai nghĩa và khái quát được tác hại của ma túy là làm tê liệt hệ thần kinh và nếu dùng nhiều sẽ bị nghiện. Tuy nhiên hạn chế của khái niệm này là chỉ đề cập đến hậu quả của việc sử dụng ma túy, chưa làm rõ được chất ma túy là gì. 8 - Theo Từ điển Tiếng việt thì ma túy là tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện [21, tr. Nghiên cứu khái niệm này cho thấy, khi nói đến ma túy có đề cập đến cách gọi chung của các chất có tác dụng gây ra trạng thái ngây ngất, đờ đẫn dùng quen sẽ thành nghiện nhưng cũng chưa làm rõ được các chất đó là chất gì.
- Theo Công ước Thống nhất về các chất ma túy năm 1901 Đã sửa đổi bổ sung theo nghị định thư 1972 Sửa đổi Công ước Thống nhất về các chất ma túy năm 1961 của Liên Hiệp quốc thì sau khi đưa ra định nghĩa về một số loại cây, lá nhựa có chất ma túy thì tại điểm J khoản 1 Công ước có đưa ra khái niệm “ma tuý” nghĩa là bất kỳ chất liệu nào trong bảng I và II dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp. Cách đưa ra khái niệm của công ước về ma túy là dựa trên cơ sở tổng hợp các chất ma túy đã được quy định trong hai bảng của Công ước dù bất kỳ dưới dạng tự nhiên hay đã qua điều chế. Khái niệm này còn tiếp tục được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 1 Công ước của Liên hiệp quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp của chất ma tuý và chất hướng thần năm 1988. - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định các tội phạm về ma tuý tại Chương XX gồm 13 Điều (từ Điều 247 đến Điều 259 không đưa ra khái niệm chất ma tuý mà các chất ma tuý được liệt kê một số chất có tên gọi cụ thể và các loại cây khác có chứa chất ma tuý, các chất ma tuý khác ở thể rắn, thể lỏng.
Theo đó các chất ma tuý theo quy định của BLHS là: + Cây thuốc phiện, cái Coca, cây Cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định; Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cây Coca; lá khát, lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây Cần sa, quả thuốc phiện khô, tươi, + Heroine, cocaine, methamphetamine, amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 + Các chất ma túy khác ở thể lỏng, thể rắn. - Luật Phòng chống ma túy năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2008) đã đưa ra một số định nghĩa liên quan đến ma túy cụ thể như sau: + Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. 9 + Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. + Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
+ Tiền chất ma túy là hóa chất cần thiết trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy, được quy định trong danh mục của Chính phủ ban hành. + Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc dạng phối hợp có chứa hợp chất hướng thần, thuốc dạng phối hợp có chứa tiền chất là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ y tế ban hành có chứa các chất quy định tại Khoản 2,3,4 Điều này. Đồng thời, Luật Phòng chống ma túy cũng quy định về các loại cây có chứa chất ma túy và đưa ra khái niệm về người nghiện ma túy như sau: Cây có chứa chất ma túy bao gồm cây thuốc phiện (cây Anh túc), cây Coca, cây Cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định. Đến thời điểm hiện nay, danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành được quy định cụ thể trong các Nghị định gồm: Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất; Nghị định số133/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/11/2003 của Chính phủ quy định bổ sung một số chất vào Danh mục các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ và Nghị định số 163/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2007 quy định sửa tên, bổ sung, chuyển, loại bỏ một số chất thuộc danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ; Nghị định số 17/2011/NĐ-CP ngày 22/02/2011 quy định về bổ sung, sửa tên chất, tên khoa học đối với một số chất thuộc danh mục các chất ma túy và tiền chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CPngày 01/10/2001 của Chính phủ và Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày 12/11/2007của Chính phủ; Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các Danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chất ma túy 10 và tiền chất; gần đây nhất ngày 29/5/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2020/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Theo đó, các chất ma túy được chia thành ba danh mục gồm: Danh mục I: các chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng trong lĩnh vực y tế, việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền (có trong Bảng IV Công ước của Liên hiệp quốc năm 1961 và Bảng I Công ước của Liên hiệp quốc năm 1971 (gồm 45 chất. Danh mục II: các chất ma túy độc hại, được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (có trong Bảng I và Bảng II Công ước của Liên hiệp quốc năm 1971) gồm 121 chất. Danh mục III: các chất ma túy độc dược dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (có trong Bảng III và Bảng IV Công ước của Liên hiệp quốc năm 1971) gồm 69 chất. Từ sự phân tích các quan điểm, các quy định của pháp luật về ma túy, chất ma túy có thể rút ra khái niệm như sau: Ma túy là các chất có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây kích thích mạnh hoặc ức chế thần kinh và làm thay đổi trạng thái ý thức cũng như sinh lý của người sử dụng.
Nếu lạm dụng, con người sẽ bị lệ thuộc vào ma túy và dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng ma túy. Việc nghiên cứu về ma túy và chất ma túy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với CQĐT, VKS, TA trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội. Khái niệm về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 11 Tàng trữ theo nghĩa thông thường là cất giữ cẩn thận những thứ có giá trị. Theo đó thì tàng trữ cũng đồng nghĩa với tích trữ nhưng thường đi liền với hành vi cất giữa những thứ bị cấm và được hiểu theo nghĩa là tàng trữ trái phép.
Khái niệm này chỉ đề cập đến hành vi tàng trữ như là hành vi cất dấu những đồ vật có giá trị như cất dấu vàng, bạc, tiền… tàng trữ còn đồng nghĩa với tích trữ nhưng thường được đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và có mục đích thu được những mối lợi nhất định cho người tích trữ hoặc để phòng ngừa lúc gặp khó khăn như tích trữ lương thực, thực phẩm… Theo Từ điển Luật học thì “tàng trữ trái phép là hành vi cất giữ trái phép đối tượng cụ thể trong người, nơi ở, nơi làm việc hoặc ở một nơi nào khác. Do tính chất đặc biệt của một số đối tượng nên hành vi tàng trữ trái phép một trong những đối tượng này bị pháp luật hình sự Việt Nam coi là tội phạm. Đó là: Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy [20, tr.