Chương 1. Đảng lãnh đạo công tác dân số-kế hoạch hóa gia giai đoạn 2001-2005 Chương 2. Đảng lãnh đạo công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010 Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm 8 z CHƢƠNG 1.
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2001-2005 1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến vấn đề DS-KHHGĐ và khái lƣợc tình hình DS-KHHGĐ ở Việt Nam trƣớc năm 2001 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ Muốn tìm hiểu công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình, trước hết cần phải hiểu những khái niệm: Dân số là gì, quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, sự phân bố dân cư, kế hoạch hóa gia đình. Dân số là một cộng đồng dân cư hay cộng đồng người chung sống trên một lãnh thổ được xác lập tại thời điểm cụ thể.
Quy mô dân số là tổng số dân của một địa phương, một quốc gia, một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định. Cơ cấu dân số là sự phân loại dân số dựa trên các đặc trưng về giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp. Chất lượng dân số là tập hợp các thuộc tính về bản chất có liên quan đến tình trạng sức khỏe, trình độ giáo dục, văn hóa, trình độ khoa học kĩ thuật, cơ cấu và kĩ năng nghề nghiệp, xã hội và tính năng động của dân số. Sự phân bố dân cư: là việc phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lí, kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.
Chính vì vậy chúng ta có thể hiểu công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và kiểm soát sinh sản, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng dân số, giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân-gia đình-xã hội, góp phần xây dựng xã hội ổn định và phát triển bền vững. Kế hoạch hóa gia đình Dưới nhiều góc độ tiếp cận có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kế hoạch hóa gia đình. 9 z Theo quyết định số 315/CP, ngày 24/8/1992 của Hội đồng Chính phủ về Chiến lược truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình 1992-2000, trong phần 3 chương V viết:"Kế hoạch hóa gia đình có nghĩa là chủ động quyết định số con của mình và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc áp dụng biện pháp tránh thai để có một gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu có. Kế hoạch hóa gia đình là quyền và cũng là trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng.
Họ được quyền tự do quyết định nhưng với ý thức trách nhiệm đầy đủ về số con của mình trên cơ sở những thông tin và những hiểu biết cần thiết để thực hiện những quyết định ấy". Theo khoản 9 điều 3 Pháp lệnh Dân số nêu: "Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của gia đình, Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh con, nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình". Tiểu ban các chuyên gia tổ chức y tế thế giới (WHO) quan niệm: kế hoạch hóa gia đình bao gồm các vấn đề thực hiện giúp cho các cá nhân hay cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu sau: tránh những trường hợp sinh không theo ý muốn, điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh, chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi bố mẹ. Đồng thời, kế hoạch hóa gia đình còn đồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, nó còn có ý nghĩa rộng hơn kiểm soát sinh sản, bao gồm: hạn chế vô sinh và khoảng cách giữa các lần sinh, tư vấn về vô sinh, phát hiện những bệnh về cơ quan sinh sản, tư vấn hôn nhân, tư vấn tư cách làm cha, làm mẹ.
Tuy có những quan điểm khác nhau, song có thể thấy các tác giả đều thống nhất khái niệm kế hoạch hóa gia đình ở một số điểm sau: + Về độ tuổi kết hôn, + Xây dựng quy mô gia đình hợp lý, đó là sự điều chỉnh có ý thức của các cặp vợ chồng về số con, 10 z + Các biện pháp hạn chế sinh đẻ, + Tư cách làm cha, mẹ, + Nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình. Công tác DS-KHHGĐ là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc, khi thực hiện nó chịu sự tác động qua lại của nhiều yếu tố. Cụ thể: Yếu tố kinh tế: Trong quan hệ với vấn đề DS-KHHGĐ, yếu tố kinh tế đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp của quá trình biến động di cư nói chung và quá trình sinh đẻ nói riêng, nó còn đóng vai trò như là phương tiện vật chất cần thiết cho việc thực hiện các nhu cầu sinh đẻ, nuôi dạy con cái và chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra yếu tố kinh tế còn tác động gián tiếp lên quá trình dân số như thay đổi điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần, biến đổi định hướng giá trị, lối sống và ý thức của mỗi cá nhân…Cùng với sự tăng trưởng kinh tế thì việc chấp nhận quy mô gia đình nhỏ độc lập cũng có chiều hướng tăng lên rõ rệt.
Thực tế cho thấy, những nơi kinh tế phát triển thì tỷ lệ gia tăng dân số lại thấp hơn so với những nơi kinh tế chậm phát triển công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở những nơi kinh tế phát triển cũng thường thuận lợi và đạt kết quả cao hơn. Hay nói cách khác, kinh tế phát triển tạo điều kiện cho trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng dân số không ngừng được cải thiện, do đó mà con người cũng có ý thức cao hơn về tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ (thực hiện sinh đẻ có kế hoạch để nuôi dạy con tốt, quan tâm và biết cách chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình…) Yếu tố nhận thức: Yếu tố nhận thức thể hiện sự hiểu biết của mọi thành viên trong gia đình và toàn xã hội về sức khỏe sinh sản, chăm sóc, nuôi dạy con cái, phòng và tránh thai ngoài ý muốn, hiểu biết và thực hiện đường lối, chủ 11 z trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề DS- KHHGĐ. Yếu tố nhận thức tác động đến công tác DS-KHHGĐ ở chỗ: trình độ học vấn có quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh, tức nơi nào có trình độ học vấn cao thì nơi đó có tỷ suất sinh thường thấp, còn nơi nào có trình độ học vấn thấp thì tỷ suất sinh thường cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng cao hơn. Những phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có ít con, bởi lẽ, một mặt công việc học tập và nghiên cứu mất một khoảng thời gian nhất định trong mỗi đời người, tuổi kết hôn nâng lên thì thời gian đẻ rút ngắn đi.
Đồng thời giúp họ tránh xa những hủ tục phong kiến lạc hậu, nhìn nhận thực tế cuộc sống để lựa chọn, tính toán phương án sinh đẻ cho phù hợp và khoa học, hơn thế, bằng kiến thức đã có những bậc làm cha, làm mẹ có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng nên việc chăm sóc con cái cũng tốt và có điều kiện hơn, giảm thiểu mức tử vong ở trẻ sơ sinh, xóa tâm lý sinh bù, sinh dự phòng. Yếu tố văn hóa: Mặc dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, các yếu tố văn hóa tốt đẹp ngày càng được phát huy nhưng không ít yếu tố văn hóa cũ, những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu vẫn tồn tại, cản trở công tác DS- KHHGĐ. Nước Việt Nam với đặc trưng văn hóa nông nghiệp lúa nước, nông nghiệp chưa thoát khỏi lạc hậu, mọi công việc đồng ruộng vẫn phải dựa vào sức mạnh cơ bắp của người đàn ông, đây là một trong những lý do khiến phần lớn các gia đình quá đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình, gây ra tâm lý phải sinh bằng được con trai để gánh vác trọng trách gia đình. Điều này đã tác động đến quy mô, tỷ lệ nam nữ trong gia đình, từ đó ảnh hưởng đến công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình.
12 z Hiện nay ở nước ta, còn có những dân tộc thiểu số có tư tưởng lạc hậu chưa xóa bỏ được như tình trạng tảo hôn còn cao, việc dựng vợ gả chồng cho con do hẹn ước của các bậc làm cha mẹ, ép gả khi con cái chưa đến tuổi trưởng thành nhằm có thêm nhân lực về giúp gia đình, để sinh con đẻ cái. Những phong tục tập quán của chế độ phong kiến vẫn còn ăn sâu bám rễ cho đến nay như quan niệm: “trời sinh voi, trời sinh cỏ” vẫn phổ biến hay tư tưởng “có nếp, có tẻ” đã đè nặng lên tâm lý của nhiều gia đình, đặc biệt là đè nặng lên người phụ nữ. Những giáo lý, tư tưởng của nho giáo đã ăn sâu, bén rễ vào tâm thức của người Việt Nam. Tư tưởng nho giáo đề cao con trai, hạ thấp con gái “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hình thành nên tâm lý ưa thích con trai và khát vọng có con trai để được công nhận là có hiếu, có người nối dõi tông đường và cũng là được thờ cúng khi về với tổ tiên.
Như vậy, có con trai không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm đạo đức đối với cha mẹ, tổ tiên, dòng họ. Sợi dây tâm thức xã hội vô hình nhưng có sức mạnh vô biên đã trói chặt cuộc đời của người Việt vào mục tiêu “phải có con trai” tạo thành một áp lực suốt đời không chỉ là của bản thân mà còn là của gia đình, nhất là người phụ nữ. Ở Việt Nam, tín ngưỡng tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm lý xã hội của cộng đồng, nó có khả năng chi phối hành vi, hoạt động và tình cảm của con người. Tại một số vùng dân cư theo đạo Thiên chúa việc thực hiện công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình gặp không ít khó khăn, luân lý lên án phụ nữ phá thai, những cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, khuyến khích áp dụng các biện pháp tránh thai, mổ và triệt sản đều không có kết quả do quan niệm của những người Công giáo cho rằng đây là những biện pháp “bất bình thường” hay là “giết người” và không thể chấp nhận.