Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI QUA KIỂM SÁT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Quyền con người và bảo vệ quyền con người qua kiểm sát các vụ việc hôn nhân và gia đình của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 1. Quyền con người trong các vụ việc hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm vụ việc hôn nhân và gia đình Theo quy định tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (khoản 1) còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này (khoản 2).
Vụ việc HN&GĐ là vụ việc phát sinh tại Tòa án nhân dân do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp hôn nhân gia đình của mình hoặc của người khác”. Vụ việc hôn nhân và gia đình bao gồm: Vụ án HN&GĐ và việc HN&GĐ. Trong đó: - Vụ án HN&GĐ là các vụ án về tranh chấp HN&GĐ. - Việc HN&GĐ là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ HN&GĐ của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền hôn nhân và gia đình.
Đặc điểm vụ việc HN&GĐ: Thứ nhất, vụ việc HN&GĐ trước hết phải là những vụ việc phát sinh tại Tòa án liên quan đến HN&GĐ. Chỉ những vụ việc HN&GĐ nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và phát sinh tại Tòa án mới được gọi là vụ việc 14 Luan van HN&GĐ. Thứ hai, vụ việc HN&GĐ phát sinh trên cơ sở có việc khởi kiện hoặc yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án gồm các yêu cầu: hủy việc kết hôn trái pháp luật; công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; chấm dứt việc nuôi con nuôi; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định đó mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
Khái niệm quyền con người trong các vụ việc hôn nhân và gia đình Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì việc đảm bảo quyền con người trên thế giới hiện nay rất được chú trọng. Điều này càng được khẳng định trong khoa học pháp lý khi ở đó, các quyền con người được hiểu đó là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân. Đó là quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập pháp không được xâm hại. Nhằm mục đích bảo vệ những quyền tự nhiên này của con người trước những sự xâm phạm của bất kể chủ thể nào, xã hội loài người đã phải tạo ra cho mình một thiết chế có trách nhiệm đảm vệ những quyền này.
Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [39,tr3]. Ở Việt Nam, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con người như một định nghĩa. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm quyền con 15 Luan van người được thể hiện trong những quy định cụ thể. Tại Nghị quyết về giành chính quyền được thông qua tại Đại hội Đại biểu Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc tại đình làng Tân Trào ngày 16/8/1945 đã: “Ban bố những quyền của dân cho dân: a) Nhân quyền, b) Tài sản (quyền sở hữu), c) Dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền [14,tr6].
Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định:“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra cách hiểu về quyền con người như sau: Quyền con người là quyền mà con người được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và được nhà nước đảm bảo thông qua hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Với quy định như trên thì đã chỉ ra những đặc điểm thuộc về bản chất của quyền con người. Thông qua đó, đã tạo nền tảng cơ bản điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến đưa ra một chuẩn mực chung về khái niệm này, phù hợp với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Tạo ra cơ sở cho các hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh có liên quan đến quyền con người ở nước ta 16 Luan van phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn hiện nay. Hiện nay chưa có khái niệm về quyền con người trong giải quyết các vụ, việc HN&GĐ nói chung.
Tuy nhiên, qua phân tích các khái niệm nêu trên có thể hiểu: Quyền con người trong các vụ việc HN&GĐ là tập hợp các quyền mà những người tham gia vụ việc được hưởng, được tôn trọng, được bảo đảm và bảo vệ trong quá trình tham gia vào các vụ việc HN&GĐ. Bảo vệ quyền con người trong các vụ việc hôn nhân và gia đình Theo Đại từ điển tiếng Việt, “bảo vệ” là:“chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn” [29,tr9]. Từ khái niệm này có thể thấy trong thực tiễn, việc bảo vệquyền con người trong vụ, việc HN&GĐ chính là chống lại mọi sự vi phạm từ phía cơ quan tiến hành tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích các đương sự trong tố tụng dân sự đối với các vụ việc HN&GĐ. Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng dân sự xuất hiện khi nảy sinh những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng – tòa án nói chung, đây là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống quy định của pháp luật của mỗi quốc gia.
Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể luôn hướng tới xác lập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình về quyền nhân thân và quyền tài sản. Nếu phát sinh các tranh chấp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích, thông thường các chủ thể lựa chọn phương thức bảo vệ thông qua Toà án bằng con đường tố tụng dân sự. Giải quyết tranh chấp dân sự trong tố tụng dân sự gồm cả giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại, lao động và hôn nhân gia đình. Bảo vệ quyền con người trong các vụ việc HN&GĐ được xuất phát từ các quyền tự nhiên của con người, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất.
Quyền con người trong TTDS xuất phát và được ghi nhận thông qua các văn bản QPPL quốc tế và được pháp luật ở Việt Nam thừa nhận. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật quốc gia cũng thừa nhận và điều chỉnh bảo vệ quyền con người trong các vụ việc HN&GĐ, nó tạo cơ sở pháp lý cho con người tham gia các quan hệ pháp luật được đảm bảo quyền, 17 Luan van lợi ích hợp pháp của mình. Từ những luận giải trên đây có thể hiểu: Bảo vệ quyền con người trong các vụ việc hôn nhân và gia đình là hoạt động của nhà nước bằng các biện pháp thông qua các quy định của pháp luật với mục đích là đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên đương sự trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình. Bảo vệ quyền con người trong các vụ việc HN&GĐ có một số đặc điểm như sau: Một là, bảo vệ quyền con người trong giải quyết các vụ việc HN&GĐ tập trung chủ yếu vào hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được BLTTDS 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành quy định.
Điều này khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ quyền con người trong các vụ việc HN&GĐ ở nước ta trong giải đoạn hiện nay. Hai là, mục tiêu của bảo vệ quyền con người trong giải quyết các vụ, việc HN&GĐ là để hoạt động này đạt kết quả cao nhất. Bởi tính chất quan trọng của vấn đề này nên công tác này luôn được coi là một trong những hoạt động quan trọng của nhà nước khi thực hiện các quy định của BLTTDS nói chung. Ba là, đối tượng bảo vệ quyền con người trong các vụ việc HN&GĐ bao gồm: nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người phiên dịch; người giám định; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự.