Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng chế định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Các quy định về hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999 với việc bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Nhu cầu và một số giải pháp kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội và nâng cao hiệu quả áp dụng. 8 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI BẰNG CHẾ ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm ngƣời chƣa thành niên và ngƣời chƣa thành niên phạm tội 1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên Mỗi con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành đều có quá trình phát triển và được chia thành nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, trong đó có một giai đoạn đặc biệt để có bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất và tâm hồn, đó là thời kỳ được gọi là ngƣời chƣa thành niên. Khi nói đến NCTN chúng ta thường hiểu rằng đó là người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách (thể chất và tinh thần), chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Đó là thời kỳ gắn liền với những thay đổi về tâm sinh lý mà bất kỳ người đã thành niên nào cũng phải trải qua.
Đây là thời kỳ chuyển tiếp mà NCTN không hẳn là trẻ em, nhưng cũng không phải là người đã thành niên. Thuật ngữ NCTN thường được dùng phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới cũng như ở các ngành khoa học khác nhau, nhưng khi nói đến khái niệm về NCTN thì đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Ngay cả trong văn bản pháp luật thực định cũng có những tên gọi khác nhau như “Người chưa thành niên; trẻ vị thành niên hoặc trẻ em”. Trên phương diện luật pháp quốc tế khái niệm NCTN được đề cập tại các văn kiện pháp lý quan trọng và nó trở thành giá trị chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc, các quốc gia muốn hướng tới nhằm thúc đẩy sự tôn trọng để bảo vệ quyền con người của NCTN.
Cụ thể các văn kiện quốc tế như: Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (CRC) tại Điều 1 quy định "Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, 9 z trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [29, tr. Như vậy, theo CRC trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn. Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên; thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi. Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi.
Bên cạnh đó Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) cũng nêu rõ "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" [27, số 2. Quy tắc Bắc Kinh chỉ quy định các tiêu chuẩn tối thiểu và nó hoàn toàn tôn trọng tính riêng của mỗi quốc gia khi quy định giới hạn độ tuổi của NCTN phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của quốc gia đó. Tuy nhiên, trên thực tế các văn kiện pháp lý quốc tế đều thống nhất định nghĩa khái niệm NCTN là người dưới 18 tuổi. Bởi lẽ đây là giai đoạn trẻ em phát triển lên người lớn, và đặc điểm chính của NCTN trong giai đoạn này là chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách; Chưa đủ khả năng để sử dụng quyền và gánh vác nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
Do vậy, pháp luật ở mỗi quốc gia quy định riêng độ tuổi cụ thể của NCTN phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội để có hệ thống pháp luật phù hợp. Ở Việt Nam, định nghĩa, khái niệm NCTN theo Từ điển Tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học viết "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân" [49, tr. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tùy theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật mà nhà làm luật đưa ra khái niệm NCTN cũng khác nhau 10 z cụ thể như: + Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định "Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên" [31]; + Điều 119 Bộ luật Lao động năm 2002 quy định "Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi" [33]; + Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" [30]; + Điều 12 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm; Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" [32]; Điều 68 BLHS quy định "Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo những quy định của chương này. Từ những phân tích trên có thể thấy rất nhiều quy định khác nhau về việc xác định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc của thời kỳ NCTN, vì mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì quan niệm về NCTN theo đó cũng khác nhau.
Nhưng tựu chung quan niệm của các ngành luật đều đồng nhất ý kiến NCTN là người chưa trưởng thành về thể chất và trí tuệ. Đặc điểm đặc trưng về lứa tuổi là sự phát triển chưa đầy đủ, các em đang trong quá trình hình thành, phát triển tâm sinh lý, nhận thức còn non nớt, hạn chế, kinh nghiệm sống ít ỏi, hành động thường bồng bột, xốc nổi, nhẹ dạ, thiếu kinh nghiệm, dễ va vấp bởi môi trường sống xung quanh tác động. Nhưng nói về khái niệm NCTN thì chúng ta có thể dựa theo quy định tại Điều 18 BLDS và Điều 119 BLLĐ là hai Bộ luật chung, phổ biến để thống nhất về quan điểm đưa ra định nghĩa, khái niệm "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi". Khái niệm này hoàn toàn phù hợp với CRC.
Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên phạm tội Khái niệm NCTN phạm tội không những mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Khái niệm này phụ thuộc vào sự tồn tại của mỗi xã hội và sự phát triển về thể chất, tinh thần của con người sống trong xã hội đó, nó phản ánh thông qua ý chí của giai cấp thống trị. Trong các văn bản Quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Hệ thống pháp luật ở tất cả các quốc gia trên thế giới khi quy định NCTN phạm tội đều chú ý tới độ tuổi của họ, và nỗ lực tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật liên quan đến NCTN phạm tội tuân thủ theo đúng luật quốc tế về quyền con người.
Bên cạnh đó Công ước còn có tính ràng buộc, tập hợp các quy tắc, hướng dẫn đã được cộng đồng quốc tế thông qua để quy định chi tiết việc áp dụng pháp luật với NCTN. Đây là những nguyên tắc và tiêu chuẩn mà nhiều quốc gia thành viên đã đồng ý và nêu rõ trong các tuyên ngôn, nguyên tắc, quy tắc và các hướng dẫn chuẩn. Mặc dù những văn bản này không có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý với các quốc gia thành viên, nhưng chúng được xây dựng từ pháp luật quốc tế và được đông đảo các nước trên thế giới đồng tình ủng hộ. Do vậy, các văn bản chủ yếu mang tính khuyến nghị, định hướng đối với các quốc gia thành viên, góp phần thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em [23, tr.
- Tại Nga, Bộ luật Hình sự liên bang quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự ở Điều 20 đó là "Người đủ 16 tuổi vào thời điểm phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự; Người đủ 14 tuổi vào thời điểm phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội tại các điều 105; 111; 112; 126; 131; 132; 158; 161; 162; 163; 166; 167; 205; 206; 207; 213; 214; 226; 229; 267 [9, tr. - Tại Pháp, Điều 122.8 Bộ luật Hình sự quy định "Những người chưa thành niên nhận thức được hành vi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm nghiêm trọng, các tội ít nghiêm trọng hoặc các tội phạm nhỏ…”; LHS 12 z Pháp cũng quy định các biện pháp giáo dục có thể được tuyên đối với những NCTN từ 10 đến 18 tuổi, quy định hình phạt đối với NCTN từ 13 đến 18 tuổi, có tính đến độ tuổi khi cân nhắc giảm hình phạt [9, tr. - Tại Mỹ, có 13 tiểu bang đã thiết lập độ tuổi tối thiểu khoảng từ 6 đến 12 tuổi, và hầu hết các bang đều dựa vào pháp luật chung của nhà nước. - Pháp luật của các nước Bắc Âu lại quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 15, thanh thiếu niên dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu được áp dụng hệ thống tư pháp là các dịch vụ xã hội, còn việc giam giữ là phương án cuối cùng.
- Tại Nhật Bản có hệ thống Tòa án gia đình để xét xử đối với người phạm tội dưới 20 tuổi, chứ không được xét xử chung trong hệ thống tòa án hình sự. - Tại Trung Quốc lại quy định trẻ em từ 14 đến 18 tuổi được xử lý bằng hệ thống tư pháp vị thành niên. - Còn ở Việt Nam, Điều 12 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định "1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm; 2.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" [32].