Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NHÓM NGƯỜI YẾU THẾ BẰNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm bảo vệ quyền con người của nhóm người yếu thế bằng pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm của người yếu thế và phân loại 1. Khái niệm người yếu thế “Người yếu thế” là một thuật ngữ pháp lý nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về các nhóm dễ bị tổn thương và định nghĩa của thuật ngữ này cũng có sự khác biệt ở các góc độ và lĩnh vực khác nhau.
Trong các văn bản pháp luật, tài liệu nghiên cứu và thảo luận về luật nhân quyền quốc tế, người ta sử dụng thuật ngữ tiếng Anh “vulnerable groups” để ám chỉ người yếu thế và được sử dụng rộng rãi hơn cả để đảm bảo nguyên nghĩa của nó. Theo từ điển Anh ngữ, “vulnerable được dịch là có thể bị tổn thương, dễ bị nguy hiểm, yếu thế. Thuật ngữ “vulnerable groups” được dịch là nhóm, nhiều người cùng gộp lại ở trạng thái mong manh, dễ vỡ,…”. Thuật ngữ “vulnerable groups” khi dịch sang tiếng Việt có thể được hiểu theo nhiều cụm từ khác nhau, ví dụ: nhóm người dễ bị tổn thương, nhóm người yếu thể, nhóm người ở vị trí cá biệt mang nghĩa tiêu cực, hay nhóm thiệt thòi.13] Khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, khái niệm “nhóm dễ bị tổn thương” mang sắc thái gần gũi, trọn nghĩa hơn, tuy nhiên trong bài viết này, các tác giả thống nhất sử dụng khái niệm “nhóm người yếu thế” để nhấn mạnh rằng nhóm này ở vị trí và vai trò yếu hơn trong xã hội và thiệt thòi hơn so với các nhóm khác.
8 Ngày 19/10/2005, các quốc gia thành viên của LHQ đã thông qua Tuyên ngôn Thế giới về Đạo đức Sinh học và Nhân quyền (Universal Declaration on Bioethics and Human Rights). Điều 8 của bản tuyên ngôn để cập đến “tính dễ bị tổn thương” và “nhóm dễ bị tổn thương” [35]. Tuyên ngôn không định nghĩa các Thuật ngữ “dễ bị tổn thương” hay “nhóm dễ bị tổn thương” nhưng khẳng định rằng không chỉ cá nhân mà cả gia đình, nhóm và cộng đồng cũng có thể dễ bị tổn thương, đồng thời chỉ ra một số trường hợp có thể làm cho các cá nhân và nhóm dễ bị tổn thương như: dịch bệnh, khuyết tật, các điều kiện khác của cá nhân, điều kiện môi trường, giới hạn tài nguyên,… Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyển con người do GS.TS Nguyễn Đăng Dung,TS. Vũ Công Giao và ThS.
Lã Khánh Tùng đồng chủ biên đã đưa ra khái niệm nhóm người yếu thể là: “Những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay vi phạm các quyền con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác” [9, tr. Từ các quan điểm trên và thực tế nghiên cứu, tác giả đưa ra khái niệm “NYT là người bị hạn chế một phần năng lực do tự nhiên hoặc do hoàn cảnh xã hội quy định khiến họ bị đánh giá thấp về địa vị kinh tế, chính trị, xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện và năng lực có sẵn như nhau. Tuy nhiên, tính yếu thế của họ không phải là bất biến, một người có thể trong thời điểm này là NYT nhưng sang thời điểm khác thì không còn là NYT nữa”. Đặc điểm người yếu thế Đặc điểm địa vị chính trị, xã hội: Địa vị chính trị, xã hội của NYT không cao, không có tiếng nói hoặc tiếng nói rất yếu trong xã hội.
Bởi vì họ thuộc nhóm thiểu số và vì những điểm yếu của họ nên họ thường bị phớt lờ hoặc bị 9 cho là không cần thiết phải tìm kiếm lời khuyên từ họ. Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, giao tiếp, thiếu kỹ năng sống và kỹ năng ứng phó với các vấn đề trong cuộc sống cũng là những nguyên nhân khiến tiếng nói của NYT bị hạn chế trong các nhóm, diễn đàn. Đặc điểm về khả năng kinh tế: Khả năng kinh tế tổng thể của NYT còn thấp. Nguyên nhân là do họ có trình độ học vấn thấp, không có hoặc khả năng lao động hạn chế, khiến họ mất cơ hội việc làm, không có thu nhập tự nuôi sống bản thân và không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản nhất như nhà ở, nhà ở.
Việc làm, giáo dục, chăm sóc y tế, thông tin,… Vì vậy, NYT luôn phải sống trong vòng luẩn quẩn của đói nghèo. không thể thoát ra tình trạng của người thuộc nhóm yếu thế. Đặc điểm về nhận thức pháp luật và khả năng tự bảo vệ pháp luật: Nhận thức pháp luật của NYT chưa cao dẫn đến khả năng tự bảo vệ pháp luật của họ không cao. Họ không biết hoặc chưa nhận thức đầy đủ về các quyền mà mình được hưởng nên khi quyền của mình bị xâm phạm, họ không biết cách tự bảo vệ mình và không thể tự bảo vệ mình.
Họ rất cần sự quan tâm của nhà nước, xã hội tạo điều kiện trang bị kiến thức pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ họ khi quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm. Có thể nói đây là những đặc điểm chung nhất của những người thuộc nhóm yếu thế, tuy nhiên không phải người yếu thế đều có tất cả những đặc điểm này. Khi xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người yếu thế bị tước quyền tự do, họ phải chấp hành án tại cơ sở giam giữ, do đó một số quyền lợi của họ có thể bị ảnh hưởng. Mặc dù, những người này có thể là những người có địa vị xã hội, có kiến thức pháp luật, nhưng lúc này họ bị yếu thế về một số quyền lợi khác xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm khả năng nhận thức, 10 sức khoẻ,… mà cần phải được quan tâm bảo vệ hơn so với những nhóm người khác.
Phân loại người yếu thế Theo cách phân loại NYT, luật pháp quốc tế ghi nhận quyền con người của một số nhóm dễ bị tổn thương, bao gồm: trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người nhiễm HIV, người lao động nhập cư và người dân bình thường, người dân tộc thiểu số, nạn nhân chiến tranh, người già, người không quốc tịch. người, người tị nạn, người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới. Ngoài ra còn kể đến gười tị nạn, người xin tị nạn và những người bị xã hội loại trừ. “Đối với Việt Nam, nước ta là nước mới thoát nghèo và là cộng đồng lớn đa dân tộc ở các vùng miền khác nhau nên đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
Ngoài ra, do công nghiệp hóa và phát triển không bền vững, người khuyết tật, người nghèo và Tình trạng bất bình đẳng giới vẫn tồn tại, gây ra những thay đổi trong môi trường xã hội tạo ra hàng loạt nhóm dễ bị tổn thương khác, làm tăng số lượng nhóm dễ bị tổn thương cần được hỗ trợ. thiểu số và các nhóm cơ bản dễ bị tổn thương khác…Đồng thời, do đặc điểm kinh tế - xã hội, hội chúng ta còn có một số nhóm người khác sống trong môi trường đặc biệt khó khăn do đói nghèo, bệnh tật và tác động của môi trường. Ngoài những nhóm này, còn có những nhóm dễ bị tổn thương khác được luật pháp quốc tế thừa nhận như người đồng tính, song tính và chuyển giới, người lao động di cư, người sống chung với HIV. tác giả sẽ không đề cập sâu trong luận văn này.
Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định rằng bản chất nhóm người yếu thế trong pháp luật thi hành án hình sự là do bị tước hoặc hạn 11 chế quyền con người bằng một bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và phải chấp hành bản án. Khái niệm bảo vệ quyền con người của nhóm người yếu thế bằng pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam 1.Quyền con người của nhóm người yếu thế “Quyền” là một khái niệm pháp lý dùng để chỉ những điều được pháp luật công nhận và bảo đảm đối với cá nhân, tổ chức, giúp cá nhân, tổ chức có thể chỉ huy, làm và yêu cầu mà không bị ngăn cản, cản trở, hạn chế. Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì “quyền”: “1. Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được, được làm, được đòi hỏi.
Những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm”[21, tr. Các nhóm dễ bị tổn thương trước hết là con người, công dân, do đó, quyền của NYT cũng mang những đặc điểm của nhân quyền, trong khi quyền công dân tương ứng với đặc điểm của từng nhóm thiệt thòi cụ thể và có những đặc điểm riêng. Trong lịch sử, bảo vệ quyền, lợi ích của con người là nguyên nhân và cũng là mục đích ra đời của pháp luật nói chung và pháp luật thi hành án hình sự nói riêng. Tác giả cho rằng quyền con người là những giá trị tự nhiên mà con người được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và được nhà nước bảo đảm và thực hiện, trong đó có các vấn đề như quyền công dân, quyền chính trị.
Tôn trọng và bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; tự do, bình đẳng trước pháp luật. 12 Tương tự như thế, quyền con người của các nhóm yếu thế là quyền tự nhiên vốn có của các nhóm yếu thế được tham gia hoặc không tham gia các hoạt động một cách tự nguyện mà không bị ai cản trở, vi phạm hay phân biệt đối xử chỉ vì những đặc điểm “thấp hơn mức bình thường” của họ. Xuất phát từ đặc điểm đó, Nhà nước quy định một cách “ưu ái” hơn quyền lợi cho họ để họ được phần nào bù đắp phần “yếu” của mình. Bảo vệ quyền con người của nhóm yếu thế Theo từ điển Tiếng Việt, bảo vệ có nghĩa là: “1.
Chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn; 2. Bênh vực bằng lí lẽ để giữ vững ý kiến, quan điểm, v. Bảo vệ chân lí…”[21, tr.240] Bảo vệ quyền con người của nhóm yếu thế có nghĩa là luôn đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi để các nhóm dễ bị tổn thương được hưởng các quyền vốn có của mình một cách phù hợp, đầy đủ và triệt để nhất.