Địa vị pháp lý người bị buộc tội theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn TP.HCM

Nghiên cứu sâu về địa vị pháp lý người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại TPHCM.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2021

186
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về địa vị pháp lý người bị buộc tội trong TTHS

Địa vị pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam là tổng thể các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định dành cho chủ thể bị cáo buộc đã thực hiện hành vi phạm tội. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Địa vị pháp lý này mang tính đặc thù, vừa bảo đảm quyền con người, vừa phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Tại Việt Nam, quyền con người luôn được tôn trọng và bảo đảm theo Hiến pháp. Người bị buộc tội được hưởng nguyên tắc suy đoán vô tội. Mọi nghi ngờ về lỗi nếu không thể loại trừ phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Địa vị pháp lý này phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong hoạt động tư pháp hình sự.

1.1. Khái niệm người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

Người bị buộc tội là thuật ngữ pháp lý chỉ những cá nhân bị cơ quan có thẩm quyền cáo buộc đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Theo BLTTHS 2015, khái niệm này bao gồm bốn nhóm chủ thể: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Mỗi nhóm chủ thể có phạm vi quyền và nghĩa vụ khác nhau tùy theo giai đoạn tố tụng. Việc phân loại này giúp xác định rõ mức độ can thiệp vào quyền tự do cá nhân và cơ chế bảo vệ tương ứng.

1.2. Cơ sở pháp lý xác định địa vị pháp lý

Cơ sở pháp lý xác định địa vị pháp lý người bị buộc tội bao gồm Hiến pháp 2013, BLTTHS 2015, các luật chuyên ngành và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hiến pháp ghi nhận quyền con người, quyền công dân không thể bị xâm phạm trái luật. BLTTHS 2015 quy định chi tiết quyền bào chữa, quyền im lặng, quyền khiếu nại. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng đặt ra tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử công bằng với người bị buộc tội.

II. Phân tích thực trạng địa vị pháp lý tại TPHCM

Thực tiễn áp dụng quy định về địa vị pháp lý người bị buộc tội tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ hạn chế. TPHCM là địa phương có số lượng vụ án hình sự lớn nhất cả nước, áp lực công việc đè nặng lên cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án. Quyền bào chữa của người bị buộc tội được bảo đảm tốt hơn ở giai đoạn xét xử so với giai đoạn điều tra. Nhiều trường hợp người bị buộc tội chưa được thông báo đầy đủ về quyền được có người bào chữa. Việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đặt ra câu hỏi về giới hạn xâm phạm quyền công dân. Thời hạn tạm giam kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do thân thể. Mô hình tố tụng thẩm vấn vẫn chi phối, khiến giai đoạn điều tra được coi trọng hơn giai đoạn xét xử. Sự mất cân đối này tác động trực tiếp đến việc thực hiện quyền của người bị buộc tội.

2.1. Kết quả đạt được trong thực tiễn TPHCM

Tại TPHCM, việc thực hiện quyền bào chữa cho người bị buộc tội có chuyển biến tích cực từ khi BLTTHS 2015 có hiệu lực. Số lượng người bào chữa tham gia tố tụng tăng đáng kể. Tòa án nhân dân TPHCM đã áp dụng nguyên tắc tranh tụng nghiêm túc hơn. Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn vai trò kiểm sát việc tuân thủ pháp luật. Nhiều phiên tòa có sự tham gia của luật sư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho bị cáo. Công tác tiếp cận hồ sơ vụ án cũng được cải thiện.

2.2. Hạn chế và bất cập trong thực tiễn áp dụng

Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn tại TPHCM vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Tỷ lệ người bị buộc tội có người bào chữa ở giai đoạn điều tra còn thấp. Một số điều tra viên chưa tuân thủ nghiêm quy định về thời gian hỏi cung. Việc ghi âm, ghi hình hỏi cung chưa được thực hiện đầy đủ. Thời hạn tạm giam ở mức tối đa, gây áp lực tâm lý lớn cho người bị buộc tội. Nguyên nhân chính xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của cán bộ tố tụng và thiếu cơ chế giám sát hiệu quả.

III. Giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý người bị buộc tội

Để bảo đảm tốt hơn địa vị pháp lý của người bị buộc tội tại TPHCM, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật tố tụng hình sự cho cán bộ điều tra, kiểm sát và thẩm phán. Thứ hai, mở rộng phạm vi trợ giúp pháp lý miễn phí cho người bị buộc tội thuộc diện chính sách. Thứ ba, hoàn thiện cơ chế giám sát việc thực hiện quyền bào chữa. Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động tố tụng, đặc biệt là ghi âm, ghi hình bắt buộc khi hỏi cung. Thứ năm, xây dựng cơ chế khiếu nại, tố cáo hiệu quả để người bị buộc tội bảo vệ quyền lợi. Các giải pháp cần được thực hiện theo lộ trình cụ thể, gắn với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương. Mục tiêu cuối cùng là đạt sự cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh chống tội phạm và bảo vệ quyền con người.

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng

Hoàn thiện pháp luật là giải pháp gốc rễ để bảo đảm địa vị pháp lý người bị buộc tội. Cần bổ sung quy định bắt buộc có người bào chữa từ giai đoạn điều tra đối với tội nghiêm trọng. Mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý. Quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi cơ quan tố tụng vi phạm quyền người bị buộc tội. Sửa đổi quy định về thời hạn tạm giam, rút ngắn thời gian giam giữ trước xét xử. Hoàn thiện cơ chế áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt.

3.2. Giải pháp nâng cao năng lực thực thi tại TPHCM

Nâng cao năng lực thực thi pháp luật tại TPHCM đòi hỏi đầu tư vào đào tạo cán bộ. Tổ chức tập huấn chuyên sâu về quyền con người trong tố tụng hình sự. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá việc thực hiện quyền người bị buộc tội. Tăng cường hợp tác với Đoàn luật sư TPHCM để mở rộng mạng lưới luật sư bào chữa. Ứng dụng phần mềm quản lý án để theo dõi việc thực hiện thủ tục tố tụng. Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành giám sát định kỳ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại TPHCM

Địa vị pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam có nền tảng pháp lý vững chắc nhưng thực tiễn áp dụng tại TPHCM vẫn còn khoảng cách nhất định giữa quy định và thực thi. Nghi cứu từ thực tiễn TPHCM cho thấy, việc bảo đảm quyền bào chữa, quyền được đối xử nhân đạo, quyền khiếu nại cần được chú trọng hơn nữa. Mô hình tố tụng tranh tụng đang dần được xác lập, tạo điều kiện thuận lợi cho người bị buộc tội bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cần thời gian và sự quyết tâm của cả hệ thống tư pháp. Ứng dụng các giải pháp đề xuất sẽ nâng cao chất lượng tố tụng, giảm oan sai, tăng cường niềm tin của nhân dân vào công lý. Bài học từ TPHCM có thể áp dụng cho các địa phương khác trên cả nước.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn TPHCM

Thực tiễn TPHCM rút ra nhiều bài học quý giá. Việc tăng cường tranh tụng tại phiên tòa giúp phát hiện sai sót trong điều tra. Mô hình trợ giúp pháp lý tại các trại tạm giam cần được nhân rộng. Sự phối hợp giữa công an, viện kiểm sát và tòa án phải dựa trên cơ chế giám sát lẫn nhau, không phải hợp tác để buộc tội. TPHCM cũng là nơi thí điểm nhiều cải cách tư pháp, tạo tiền đề cho việc sửa đổi pháp luật toàn quốc.

4.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, địa vị pháp lý người bị buộc tội tại TPHCM cần hướng tới chuẩn mực quốc tế. Áp dụng rộng rãi ghi âm, ghi hình bắt buộc khi hỏi cung. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người bị buộc tội. Tăng cường vai trò của luật sư ngay từ khi bắt giữ. Đẩy mạnh truyền thông pháp luật để người dân hiểu rõ quyền khi bị buộc tội. Mục tiêu là xây dựng nền tư pháp hình sự hiện đại, công bằng, nhân văn.

19/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nhóm các công trình liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài 1. Liên quan đến chính sách hình sự - Quyễn sách “Chính sách pháp luật” của GS.TS Võ Khánh Vinh, xuất bản năm 2020, đây là một công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về chính sách pháp luật, vì vậy có thể sử dụng làm cẩm nang, giáo trình đào tạo những người chuyên nghiệp có trình độ cao cho xây dựng và áp dụng pháp luật, trong đó có đề cập đến chính sách hình sự là một loại chính sách pháp luật, một loại chính sách xã hội, một loại chính sách công, một loại chính sách đối nội.

Chính sách pháp luật hình sự bao gồm các bộ phận hay các yếu tố cấu thành sau đây: chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật TTHS, chính sách pháp luật điều tra hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự, chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về các tiêu chuẩn mang tính toàn cầu của độc lập xét xử và thẩm phán ở Việt Nam “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của Viện Nhà nước và pháp luật do PGS. Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đã đề cập trực tiếp khá toàn diện các vấn đề về quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực TTHS. Tuy không trục tiếp nghiên cứu về quyền của NBBT trong TTHS, song rất nhiều luận điểm về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp và trách nhiệm tương ứng của các cơ quan tư pháp là những nội dung mà tác giả luận án cần tham khảo.

- Bài viết “Mối liên hệ giữa quy định pháp nhân phạm tội với quy định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân và một số vấn đề cần lưu ý” của tác giả Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2018 có nêu nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự là cơ sở của các quy 11 định về: trách nhiệm xử lý pháp nhân phạm tội trong BLTTHS; khởi tố VAHS, khởi tố bị can; xác định chủ thể và địa vị chủ thể tham gia tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân; áp dụng các biện pháp cưỡng chế về TTHS trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự; xác định đối tượng chứng minh khi THTT đối với pháp nhân bị buộc tội; giải quyết những vấn đề khác liên quan đến thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân của BLTTHS. Qua đó, tác giả có kiến nghị cần làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ PLTTHS, chủ thể của tội phạm là pháp nhân có đúng là pháp nhân thực hiện tội phạm hay không; trách nhiệm hình sự của cá nhân các thành viên pháp nhân trong vụ án đó. - Luận án tiến sĩ luật học “Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay”, năm 2013 của tác giả Nguyễn Hải Ninh đã phân tích, so sánh đối chiếu bản chất của độc lập xét xử với các tiêu chuẩn chung của Liên hiệp quốc về xét xử qua đó chỉ ra các nét đặc thù của Việt Nam. Tuân thủ nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” nhằm đảm cho xét xử công bằng, nghiêm minh, đúng người đúng tội, không làm oan sai NBBT.

- Luận án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Như Quỳnh, Học viện Khoa học xã hội năm 2017 đã nghiên cứu một cách có hệ thống lịch sử hình thành và phát triển về quyền tư pháp trong TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay, phân tích những kết quả đạt được cũng như những bất cập hạn chế của pháp luật về tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong TTHS trên các phương diện xét xử VAHS. Bên cạnh đó, luận án phân tích thực tiễn hoạt động giám sát trong quá trình TTHS giữa các cơ quan THTT và cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử, xã hội và báo chí. Tác giả hoàn toàn thống nhất với nội dung “quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan tư pháp trong đó Tòa án chiếm vị trí đặc biệt, tuy nhiên không nên đồng nhất với quyền xét xử và không nên quy quyền tư pháp về một loại hoạt động xét xử nào đó của Tòa án [120]. Như vậy, có thể nói quyền tư pháp rộng hơn quyền xét xử và quyền của NBBT không chỉ liên quan 12 đến hoạt 13 động xét xử mà còn liên quan đến hoạt động theo chức năng của các cơ quan tư pháp hình sự khác như CQĐT, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự.

- Bài viết “Bàn về nội dung và phương hướng hoàn thiện chính sách pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của tác giả Huỳnh Thị Kim Ánh, Tạp chí An ninh nhân dân, số 96 tháng 5/2020, đưa ra khái niệm chính sách PLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một loại của chính sách PLTTHS nhằm xác định phương hướng cơ bản, có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng PLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tăng cường việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm - Luận án tiến sĩ luật học “Xét xử sơ thẩm từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Thanh Phong, Học viện Khoa học xã hội năm 2017, luận án đã khái quát và xác định xét xử sơ thẩm hình sự là giai đoạn TTHS độc lập, đồng thời phân tích các quy định, thực trạng áp dụng, những vướng mắc bất cập, đề xuất hai nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS về xét xử sơ thẩm để nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong TTHS. Tác giả đã làm rõ những nội dung cơ bản của phiên tòa hình sự sơ thẩm, nhất là việc tuân thủ các nguyên tắc quy định trong BLTTHS 2015 như nguyên tắc tranh tụng (Điều 26), Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử (Điều 23), nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, khách quan (Điều 25), đồng thời làm rõ vấn đề giới hạn xét xử, vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung. Những nội dung theo kết quả nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn đến địa vị pháp lý của NBBT là bị can (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), bị cáo. - Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các VAHS ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đào Văn Cường, Học viện Khoa học xã hội năm 2018, đã nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự các VAHS, đặc biệt khái quát lịch sử PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS 2015 về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự 14 các VAHS, nêu cụ thể từng quy định và hướng hoàn thiện các quy định, nêu giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự các VAHS.

Tác giả sẽ sử dụng một số kết quả nghiên cứu từ luận án này để phân tích, đánh giá cụ thể về địa vị pháp lý của NBBT tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhất là giai đoạn mà BLTTHS 2015 đã có hiệu lực thi hành. Ngoài ra, trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu đã có và các quy định của pháp luật về quyền của NBBT thì cần làm rõ hơn những nội dung về nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân phải đáp ứng quyền mà pháp luật đã quy định cho NBBT, tác giả sẽ nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của NBBT thông qua hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền tố tụng. Liên quan đến chức năng tố tụng - Bài viết “Phiên tòa sơ bộ - giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2019, của tác giả Lê Thanh Phong. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của PLTTHS của các quốc gia, xuất phát từ những quy định mới của BLTTHS 2015 và thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử tác giả bài viết đã kiến nghị cần bổ sung quy định về phiên tòa sơ bộ vào BLTTHS.

Dựa trên kết quả nghiên cứu và đề xuất này, tác giả tiếp tục kiến nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong giai đoạn tiền xét xử, tạo thêm cơ hội cho NBBT bảo vệ các quyền trong cả quá trình TTHS. - Bài viết “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hạn tạm giam trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” của tác giả Hoàng Tám Phi, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2019 có nêu tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất tước đi quyền tự do thân thể và một số QCD của NBBT và thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam được quy định ở nhiều điều luật khác nhau trong BLTTHS 2015 tương ứng với từng giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời tác giả bài viết cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định về thời hạn tạm giam của BLTTHS 2015.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ