Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền xác định lại giới tính. Khái niệm chung vềgiái tính và xác định lại giới tính LLL Gith 6 mất góc độ khác nhau, mỗi nhom người trong xã hội hay mỗi ngành khoa hoc khác nhau lại có một cách tiếp cận giới tinh Khác nhau. Dưới gic độ pháp lý, theo quy định tai khoăn 2 Biéu 5 Luật Binh đẳng giới là khái niêm chỉ su khác biết giữa nam và nữ vẻ phương điện sinh học, có từ khí ra,. đồng nhất vả sinh không biển đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học).
"Trong sinh hoc, y học thi sau khi tring thụ tinh với tinh tring thi giới tính sẽ được hình thảnh qua các giai đoạn sau, và néu một trong các giai đoạn nảy mầu. thuẫn với những giai đoạn còn lại thi xảy ra tinh trang giới tính không rõ rang: - Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành tuyển sinh duc. Ở giai đoạn nảy có sự kết hợp giữa các cặp nhiễm thể giới tính XX. - Giai đoạn 2: Giai đoạn hình thành các cơ quan sinh duc bên ngoài.
- Giai đoạn 3: Giai đoan đăng ký giới tính (giới tính pháp ly) thể hiện bằng hành vi đăng lý khai sinh, xác nhân giới tinh vẻ mặt pháp lý. - Giai đoạn4: Giai đoạn tâm ly giới tinh, Một người trong giai đoan này một mặt các cơ quan sinh dục phát triển hoàn thiện, mặt khác người đó có hảnh vi hướng nam hoặc hướng nữ: Theo triết hoc Mác ~ Lénin, durdi khia cạnh của tự nhiên và xã hồi. "Con người là thực thé thẳng nhất giữa cái tự nhiên và xã hôi, luôn mang ban chất xa hội ~ lich sử”. Chủ nghĩa Mac cho ring, trước hết con người la sản phẩm của giới tự nhiên, do tư nhiên sinh ra và mang đặc điểm của tự nhiên vẫn có, song khi ra đời, hòa nhập với thé giới dưới tác đồng của xã hội nơi ho sinh sông, thi con người không chỉ tổn tại đơn thuần la sản phẩm của tư nhiên nữa, ma nó mang các đặc điểm, thuộc tính của sã hội nơi nó sinh sống, Giới tinh của con người cũng không, nắm ngoài quy luật ay, mặc dù vé nguyên gốc khi sinh ra thi giới tính của con 6 người chỉ đơn giần là van dé tự nhiên nhưng khi được sinh ra và lớn lên thi chúng ‘mang những đặc điểm sã hội tại nơi ma chủng sinh sống, Thông thường, khi một đứa trẻ sinh ra thì người ta sẽ căn cứ vào biểu hiện bên ngoai của cơ quan sinh.
dục dé sác định đứa trẻ đó là trai hay gii, từ đó có những cách nuôi dưỡng, giáo dục cho phù hợp với môi trường xã hội nơi đứa tré đó được sinh ra va lớn lên. Song do có sự tác động của sã hội, nên mỗi đứa trẻ mang giới tính khác nhau sẽ có những đặc điểm vé mit xf hội khác nhau. Vi vay, trong nhiều trường hợp để phân biết giới tinh, người ta không chỉ xem xét yếu tổ tu nhiên, có nghĩa là nhìn vvao biểu hiện bên ngoài cia bô phân sinh dục để nhận biết một người la nam hay nữ, vì néu chỉ xét đến yếu tổ tự nhiên đó thi trong nhiều trường hợp Ja chưa chính. xác bởi giới tính của con người còn mang các đặc điểm xã hội.
Do đó, để xem xét giới tính của con người thì cần xem xét đến các yếu tổ: - Về yêu tô di truyén: Giới tính tự nhiên của con người được sác định dựa trên cầu trúc bô nhiễm sắc thể. Nếu có cặp nhiễm sắc thé XXX thì là nữ, cặp nhiễm. sắc thể XY là nam. - Về mat cầu tạo giải phẫu: Theo tuyển sinh dục bên trong, nếu một người ma có buồng trứng thi mang giới tính nữ, còn nếu có tinh hoàn thi mang giới tính nam.
Còn căn cử vào các đường sinh duc va các tuyển sinh đục phụ như có vai tring, từ cung, âm đạo,. thi sẽ lả nữ, ngược lại nếu có các ống dẫn tinh, các tuyến tiên liệt, tuyển niệu dao thi sẽ là Nam. Đồi với cầu trúc bên ngoài thi xem xét néu có âm vật, , mỗi lớn và môi nhô lä nữ con éu còn đương vật, biu,. ~ Về mặt sinh hoc: Dựa vào các đặc.
như din ông có tính hoàn còn phụ nit thì không có, ngược lại phụ nữ có kinh nguyét hàng tháng thi đàn ông lai không có - Về đặc điểm bên ngoài. Xã hội người ta lai xem xét, nhận biết giới tinh cia con người qua các đặc như tiếng nói, hình dáng bên ngoài, cử chi, cách ứng, xử, hành vi Nour vậy, qua những gi nghiên cứu và phân tích tử những đặc điểm vé giới tinh, có thé đưa ra một khái niệm tương đối với giới tính như sau: “Giới tinh của cơn người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt tao ra sự khác biệt giữa 7 nam và nứt Ste khác biệt chủ, ấu giữa nam và nite la những đặc điểm giải phẫu sinh ]J, từ đó dẫn din sự hắc biệtrố rét về tâm I} Giới tính có ngun gốc từ tự nhiên và 2 hôi, mỗi cá nhân đêu là những chủ thé chủ đông trong quả trình hình thành những đặc điểm, dầu hiệu vẻ giới tinh của mình. Sichác nhan giữa xác din lat giới tinh và chu én đãi giới tinh Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hai giới tính, là nam hoặc là nữ: Do đó, có thé đưa ra khái niệm: “Xác định lại giới tính là nh ig tint tục đùng để điều chinh: lat giới tính của một người có kinyyét tật bẫm sinh về giới tinh hoặc giới tỉnh chưa đợc Ämh hình chính xác ”. Còn “Chuyễn đối giới tinh là quá trình can thiệp làm get thay ỗi giới tinh cũa một cá nhân kit giới tinh đó đã được vác định ‘Laru ý: Cần phân biệt Quyền xác định lại giới tính va Chuyển đổi giới tính vi nhiễu người đã đồng nhất hai khái niệm nay là một.
- Về bản chất: Xác định lại giới tính nhằm tra lại giới tính sinh học thực chất của những người bi khuyết tật bẩm sinh vé giới tỉnh hoặc giới tinh chưa được định. tình chính xác. Chủ thé của quyển này được hiểu la những người có sự phát triển không điển hình của các đặc điểm giới tinh va sinh lý trên cơ thé. Trong khi đó, chuyển đổi giới tinh lả trường hợp cá nhân có nhận thức vé giới tính khác với giới tính sinh học của minh va nhờ sự can thiệp bằng phấu thuật chuyển sang giới tinh ngược lại, vé mặt sinh học, giải phẫu ho đã hoàn thiện, không có khuyết tật bam sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính sác, - Về căn cứ.
Xác định lại giới tính thì chỉ được xác định lại giới tính khi bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Con căn cứ để chuyển đổi giới tính được thực hiện theo mong muối „nhu cầu của cá nhân những người đã hoàn thiên về giới tinh nhưng có cảm nhân về giới tỉnh. minh mong muốn khác với giới tính minh đang có. Theo Hiệp hôi Tâm thần Hoa Ky (1980), người chuyển giới có các đặc điểm như sau: Không có các bắt thường, về nhiễm sắc thé hay thuộc dang lưỡng giới tính giả, không phải do rồi loạn tâm.
Tả Thị Hen 2009), wer tiên qu dn lân nd incr Đo ay đnNhtơng Bộ lễ Din neni 2105, Darvin Đạ học Luật Ha Nội, Hà Nội #7 8 thn, như bệnh tâm thin phân liệt, và cảm giác không thoải mái, không thích cơ quan sinh dục của chính bản thân Ở một số nước, một người chỉ được quyển. chuyển đỗi giới tính khi tâm lý của họ luôn bi ám ảnh về việc minh có giới tính. trái với giới tính sinh học. Ho muốn được cắt bỗ cơ quan sinh đục và muốn sing như người thuộc phải khác.
Căm giác khó chịu nay kéo dai it nhất là hai năm và không phụ thuộc vảo việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa. Thông thường, những người nảy sẽ thay đổi hay muỗn thay đỗi cơ thể của minh bằng cách dùng liệu pháp tiêm hormone, di phẫu thuật hay dùng các phương pháp khác để có thé có một cơ thé gidng nhất với giới tính ma họ muốn. ~ Về hậu quả pháp lý. Người xác định lại giới tinh sau khi thực hiện can thiệp y tế sẽ có những phát sinh, thay đổi một số quyển va nghĩa vụ.
Còn đổi với chuyển. đổi giới tính, van chưa có văn bản Luật quy định cụ thể. Trong hơn 08 năm ké từ khi người chuyển giới được công nhận, những người có nhu câu chuyên đổi giới tinh vẫn phải chờ Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính từ Quốc hội chính thức được thông qua. Do đó, van dé can thiệp y tế chuyển đổi giới tính tại các cơ sở y tế có thấm quyền vẫn chưa được hợp pháp hoa va việc đăng ký thay cải chính hộ tịch cho những trường hop đã chuyển dai giới tinh ở nước ngoai được tiếp nhận giải quyết trên thực tế.
Đặc điển của quyên xác định lại giới tính Quyên xác định lại giới tính là một quyé nhân thân, nén nó cũng mang đây đủ những đặc điểm một quyền nhân thân trong pháp luật dân su va la một phẩn. của quyền công dân, quyé con người. 121 Bề quồnconngiỏi Nhân quyền hay quyền con người là những quyển tư nhiên của con người va không bị tước bỏ bởi bat cứ ai va bắt cử chính thé nao, người xác định lai giới tính cũng không phải là một ngoại lệ. Mỗi người được sinh ra déu binh đẳng và được tao hóa ban cho một sô quyền không thể tước bd, như quyền sống, quyên tự do quyển được mưu câu hạnh phúc.
Quyển con người là quyền tự nhiên nhất của mỗi cá nhân trong xã hội, khi con người sinh ra họ đã có một số quyền nhất định. Vì 9 vay, dù muốn hay không thì các nước vẫn phải thửa nhân quyển con người có ở trên mỗi cá nhân kể cả những người xc định lại giới tính. Tại Việt Nam, quyền con người được tôn trong, bao vệ như một quyền thiêng liêng, bat khả sâm phạm, vả được ghỉ nhân trong các văn bản pháp lý cao nhất là Hiền Pháp, tai Ban Tuyên. ngôn độc lập năm 1945 va được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật khác như Bộ.
luật Dân sự, Hình sự, Hôn nhân gia đính, Lao động. 122 Veqwéndénse Cu thể hóa từ các quyển con người, quyền công dân, Bộ luật Dan sự Việt Nam đã quy đính khá đây đủ các quyền cơ bản nhất của công dân như quyền nhân thân, quyền sở hữu tải sin, tư do ngôn luân, hội hop,.