Chương 1 KHÁI QUAT VE QUYEN TIẾP CAN CÁC DỊCH VỤ XÃ HOI TRONG PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi 6 m đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cap cho các gia đình đông con’. Dé tồn tại và phát triển, con người trước hết phải có những điều kiện cơ bản nhất dé đảm bảo va duy trì cuộc song. Cái ăn, cái mặc, chỗ ở là những yêu cầu cơ bảo dé con người sinh tồn.
Việc lao động dé dam bảo những nhu cau thiết yêu đó không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ mà con người phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh với nhiều nguyên nhân khác nhau như ốm đau, tai nạn, thiên tai,. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thay rang cudc song cua con người phụ thuộc nhiều vào môi trường sống tự nhiên và xã hội. Ở đó luôn tiềm ân những biến động, thay đổi khó lường. Do đó, để tồn tại và phát triển, con người luôn phải chủ động tìm kiếm những phương thức, giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, ứng phó đối với những rủi ro trong cuộc sống.
Với sự phát triển của xã hội nhân văn, sự tương trợ ngày càng được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức. Ngày nay, an sinh xã hội ngày càng chứng minh được vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Việc thực hiện an sinh xã hội không bị giới hạn bởi bat cứ rào can chính tri hay địa lý nào. Có thể nói, an sinh xã hội dần trở thành thước đo cho sự phát triển, văn minh của một xã hội, một quốc gia, một khu vực.
Quyền an sinh xã hội là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền an sinh xã hội vốn được biết đến với các nội dung cơ bản như quyền bảo vệ thu nhập, quyền bảo vệ sức khỏe, điều kiện sống,.hình thành nên pháp luật an sinh xã hội với các nội dung cơ bản bao gồm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, pháp luật về trợ giúp xã hội, pháp luật về phúc lợi xã hội (quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội). Trên thế giới, pháp luật an sinh xã hội linh hoạt nội dung, phụ thuộc vào những đặc điểm về điều kiện kinh tế, địa lý, xã hội của mỗi nước, vậy nên cũng lý giải được những nét đặc thù riêng của pháp luật an sinh xã hội mỗi quốc 3 Nguyễn Hiền Phương (2010), “Pháp luật an sinh xã hội những van đề ly luận và thực tiễn”, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, tr. Việt Nam cũng là một trường hợp khi tiếp cận nội dung pháp luật an sinh xã hội với bộ phận ưu đãi xã hội như một nét đặc thù.
Mặc dù vậy, hầu hết pháp luật an sinh xã hội các quốc gia đều hướng tới nội dung đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội thông qua đảm bảo nhu cầu thiết yếu của đời sống. Vấn đề là nội dung có thé lồng ghép trong các bộ phận cấu thành cơ bản hoặc có thé được tách ra độc lập như một bộ phận, ví dụ như Nhật Bản hình thành phúc lợi xã hội, các quốc gia Tây Âu thường tiếp cận như là sự đảm bảo quyền con người tối thiểu với nội dung quyền cơ bản của con người trong pháp luật an sinh xã hội”. Khái niệm dịch vụ xã hội được hiểu là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội với mục tiêu đảm bảo phúc lợi xã hội, phục vụ những nhu cầu thiết yếu của con người trong cuộc sông với mục tiêu an sinh xã hội. Đây là hoạt động mang bản chất kinh tế — xã hội, do nhà nước hoặc xã hội dân sự, thị trường cung ứng tương ứng với tính chất thuần công (hoàn toàn do Nhà nước cung ứng và đảm bảo thực hiện), không thuần công (được cung ứng, đảm bảo một phần bởi Nhà nước) hay tư nhân (hoàn toàn được cung ứng bởi tô chức, cá nhân dân sự) của từng loại dịch vụ trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa- thông tin, thé dục thé thao,.
Dịch vu xã hội cung cấp và hỗ trợ thông qua các dịch vụ đặc thù giúp các công dân trong xã hội có thé xây dựng cuộc sống tốt đẹp hon, là một trong những công cụ nham thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tiếp cận từ góc độ an sinh xã hội cần xác định rõ dịch vụ xã hội cơ bản do Nhà nước đảm bảo, tổ chức thực hiện, thé hiện vai trò của Nhà nước trong đảm bảo những điều kiện sống tối thiểu của con người là các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội. Các dịch vụ xã hội do tư nhân cung cấp trên cơ sở thỏa thuận dân sự không thuộc nội dung an sinh xã hội. Theo đó, quyền tiếp cận dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội được hiểu là quyên của con người trong việc ghi nhận và hưởng các lợi ích từ các dich vụ xã hội cơ bản nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội toi thiểu của con người.
Cụ thê hơn, quyền tiếp cận dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội là quyền con người, thể hiện sự bình đăng về cơ hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu với mục tiêu đảm bảo phúc lợi xã hội, được ghi nhận và đảm bảo thực hiện bởi pháp luật. Nói chung, nội dung quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản được xây dựng xuât phát từ việc đảm bảo quyên con * Cổng thông tin Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội, “Về mô hình phát triển xã hội của Châu Âu”, tại địa chi website: http://www.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=19564, Bài đăng ngày: 16/11/2013 người hay nói theo cách khác, trên cơ sở đảm bảo quyên con người mà hình thành bộ phận đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản hay phúc lợi xã hội. Đặc điểm quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội Dựa trên lý luận chung về quyên an sinh xã hội và quyền cơ bản của con người trong việc tiếp cận các dịch vu xã hội cơ bản, có thé đưa ra những đặc điểm nhằm nhận diện quyền tiếp cận dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội. Cụ thé: Thứ nhất, quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước.
Quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội là nhóm quyên thuộc quyền an sinh xã hội, được ghi nhận bởi quy định pháp luật. Do đó, quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội đó được Nhà nước ghi nhận, đảm bảo thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Thứ hai, quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội phát sinh trên cơ sở quyền con người. Con người sinh ra vốn được hưởng đầy đủ các quyên tự nhiên, vốn có và khách quan, không bị tước bỏ bởi bat cứ ai và bat cứ thé chế nào, bao gồm quyền dân sự, quyền chính tri, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Cụ thê hơn, những quyền con người cơ bản là quyền được sống, quyền được đảm bảo về sức khỏe, tính mạng, quyền được giáo dục, quyên tự do báo chi,. Day cũng chính là nội dung quyên an sinh xã hội nói chung, quyên tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ ban nói riêng. Trên cơ sở mối liên hệ đó hình thành các nội dung pháp luật đảm bảo quyên con người trong pháp luật an sinh xã hội ở các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền, moi người déu có quyên được hưởng một mức sống thích đáng, đủ đề đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyên được bảo hiểm trong trường hop thất nghiệp, dau 6m, tàn phế, goa bua, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hành cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.
Trong Hiến pháp năm 2013 cũng ghi nhận quyền con người trong chương II với việc quy định về các quyền cụ thể như quyền sống (Điều 19), quyền học tập (Điều 37), quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22), quyền tiếp cận thông tin (Điều 25), quyền được chăm sóc sức khỏe, bình đăng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế (Điều 38). Như vậy, những quyên tiếp cận các dich vụ xã hội cơ ban chính là những quyền con người, được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện. Thứ ba, đỗi tượng thụ hưởng của quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội là mọi cá nhân, chủ thể trong xã hội. Quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội mang tính phô biến, không phân biệt đối tượng thụ hưởng về giới tính, điều kiện kinh tế, dân tộc, tôn giáo,.
Quyền này xuất hiện khi con người sinh ra và chỉ chấm dứt khi người đó chết đi. Đặc trưng này xuất phát đặc điểm quyên tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội do phát sinh trên cơ sở quyền con người. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vốn xã hội có rất nhiều cá nhân với sự hạn chế nhất định về sức khỏe, thé chất, về điều kiện kinh tế hay hiểu biết xã hội,., họ khó có thé tiếp cận các dịch vụ dân sự thông thường. Do đó, việc ghi nhận quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội trong pháp luật an sinh xã hội chính là tạo ra cơ hội đồng đều, bình dang cho tat cả mọi cá nhân, chủ thể trong xã hội đều được quan tâm, đảm bảo những điều kiện song, những nhu cầu xã hội cơ bản nhất, từ đó, đảm bảo cho sự ôn định, phát triên và văn minh của xã hội.