Chương 1: Quy định chung về quyền bầu cử của người bị tạm giữ, tạm giam. Chương 2: Thực tiễn tại thành phố Hải Phòng về bảo đảm quyền bầu cử của người bị tạm giữ, tạm giam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền bầu cử của người bị tạm giữ, tạm giam. Luan van 10 Chƣơng 1 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ QUYỀN BẦU CỬ CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM 1.
Khái niệm về quyền bầu cử của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam Người bị tạm giữ, tạm giam là những người bị hạn chế, tước bỏ quyền tự do trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở và trong khuôn khổ của pháp luật quốc tế hoặc quốc gia. Mặc dù bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự nhưng những người này vẫn được tôn trọng và bảo đảm quyền con người theo quy định của pháp luật. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 tại Điều 9 đã ghi nhận: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” [10]. Giải thích và cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Mọi người có quyền tự do và an toàn cá nhân.
Không ai bị bắt buộc và bị giam giữ vô cớ. Không ai tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng thủ tục pháp luật quy định”. Như vậy, theo quy định của Bộ luật nhân quyền quốc tế thì “Mọi người có quyền tự do và an toàn cá nhân”, họ không bắt giữ, bỏ tù một cách tùy tiện, mà không theo quy định của pháp luật. Trong pháp luật quốc tế, người bị tạm giữ, tạm giam hay người chấp hành hình phạt tù thường được gọi chung với một khái niệm chỉ người bị bắt, người bị giam, giữ.
Ở nước ta, đối với người bị tạm giữ, tạm giam thì Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ định nghĩa về người bị tạm giữ, tạm giam như sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có lệnh tạm giữ. Luan van 11 Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bị bắt để tạm giam và đối với họ đã có lệnh tạm giam (Điều 2) [8]. Ngoài ra người bị bắt theo lệnh truy nã, người phạm tội đầu thú, tự thú khi bị bắt và có lệnh tạm giữ thì cũng được gọi là người bị tạm giữ. Theo pháp luật Việt Nam thì tạm giữ là một hoạt động tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của công dân, quyền tự do thân thể, đây là chế tài hạn chế một số quyền cơ bản của con người nên cần rất thận trọng trong khi thực hiện biện pháp ngăn chặn này.
Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã” [27]. Để tránh việc lạm dụng bắt người trái pháp luật hay không có căn cứ cũng như bảo đảm tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và những quyền khác của công dân chưa bị pháp luật tước bỏ Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ và nghiêm ngặt đối với những trường hợp bị tạm giữ. Việc tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn thật cần thiết để ngăn chặn tội phạm xảy ra cũng như bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được đúng pháp luật, tránh oan, sai hay bỏ lọt tội phạm. Thẩm quyền tạm giữ theo quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi Luan van 12 cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Những trường hợp bị tạm giữ bao gồm: giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã [27]. Người bị tạm giữ hình sự là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn ngay tức khắc trong thời gian ngắn (tối đa 09 ngày) được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành do nghi ngờ người đó thực hiện tội phạm (chưa khởi tố) hoặc đã bị khởi tố mà đang bỏ trốn (truy nã) nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Tóm lại, người bị tạm giữ là người bị hạn chế quyền tự do trong một khoảng thời gian nhất định do bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị giữ khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú… Một người chỉ bị tạm giam sau khi đã bị khởi tố về mặt hình sự mà cụ thể là khởi tố bị can của Cơ quan điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn, có hiệu lực pháp luật. Biện pháp tạm giam thường được áp dụng rất hạn chế vì đây là một trong những biện pháp liên quan tới tự do thân thể của con người trong thời gian dài.
Theo quy định của Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau: Đối với tội phạm ít Luan van 13 nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng [27]. Ngoài ra còn phải kể đến thời gian tạm giam để truy tố, tạm giam để chờ xét xử, tạm giam trong khi chờ bản án có hiệu lực và đưa đi chấp hành án.
Cơ quan có thẩm quyền còn có thể áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp sau đây: Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, Đối với tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà hình phạt tù trên 02 năm khi đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vẫn vi phạm; Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; Tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; Đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Đối với tội ít nghiêm trọng mà hình phạt tù đến 02 năm nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp: Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; Tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người Luan van 14 này. Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia (Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự) [27].
Như vậy, người bị tạm giam là người đã bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cách ly khỏi xã hội trong thời gian dài, được quy định trong bộ luật Tố tụng hình sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Từ phân tích trên có thể phân biệt tạm giữ, tạm giam như sau: Bảng 1. Phân biệt tạm giữ và tạm giam Tiêu chí Tạm giữ Tạm giam Khái niệm Là biện pháp ngăn chặn Là một biện pháp ngăn trong tố tụng hình sự và chặn trong tố tụng hình biện pháp ngăn chặn, sự bảo đảm xử lý vi phạm hành chính Đối tượng Những người bị giữ Những người bị tạm áp dụng trong trường hợp khẩn giam thường là bị can, cấp, người bị bắt trong bị cáo về tội đặc biệt trường hợp phạm tội quả nghiêm trọng, tội rất tang, người phạm tội tự nghiêm trọng hoặc thú, đầu thú hoặc đối với phạm tội ít nghiêm người bị bắt theo quyết trọng tuy nhiên nhân định truy nã.