CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 1.1 Khái niệm nội luật hóa điều ước quốc tế Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất về nội luật hóa là gì. Theo Công ước Viên 1969, điều ước là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.1 Theo đó, một quốc gia chịu sự ràng buộc của một điều ước quốc tế được thể hiện thông qua việc ký, trao đổi các văn kiện của điều ước, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận2 và chính sự ràng buộc trên làm phát sinh nghĩa vụ của quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế. Để thực hiện điều ước quốc tế, các quốc gia cần làm điều ước quốc tế phát sinh hiệu lực đối với mình bằng các hành vi pháp lý cụ thể như ký chính thức, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập, chấp thuận. Khi điều ước quốc tế đã phát sinh hiệu lực thì quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện điều ước đó.
Để giải quyết yêu cầu về thực hiện điều ước quốc tế thì cả về phương diện pháp lý và thực tiễn, có hai phương thức để thực hiện. Đó là áp dụng trực tiếp và áp dụng gián tiếp điều ước quốc tế. Áp dụng trực tiếp tức là sau khi điều ước quốc tế đã phát sinh hiệu lực đối với mình, tuỳ vào nội dung, tính chất và yêu cầu của điều ước quốc tế, các quốc gia có thể áp dụng toàn bộ hoặc một phần điều ước đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lãnh thổ quốc gia nếu điều ước hoặc một phần của điều ước đó đã “đủ rõ, chi tiết”.3 Khác với áp dụng trực tiếp, áp dụng gián tiếp điều ước quốc tế có nghĩa, sau khi điều ước đã phát sinh hiệu lực với mình, các quốc gia phải chuyển hoá, hay còn gọi là “nội luật hoá” toàn 1 Điểm a, khoản 1, Điều 2, Công ước Viên 1969 2 Điều 11, Công ước Viên 1969 3 Khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 6 Nguyễn Ngọc Phương Nghi Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật bộ hoặc một phần điều ước quốc tế “chưa đủ rõ, chưa chi tiết” bằng các hành vi sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản pháp luật quốc gia để thực hiện. Mặc dù tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 không nêu rõ rằng việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản pháp luật mới sẽ được thực hiện khi văn bản chưa rõ hoặc chưa chi tiết nhưng cách hiểu như trên là hợp lý bởi lẽ với những điều ước quốc tế quy định trực tiếp và rõ ràng đủ để thi hành thì không cần phải tốn thời gian, công sức, chi phí để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay ban hành văn bản mà chỉ cần áp dụng trực tiếp quy định của điều ước đó nhằm tiết kiệm các nguồn lực nói trên.
Mặt khác, theo thống kê, hằng năm Việt Nam ký kết hơn một trăm điều ước quốc tế4 mà việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần qua các trình tự, thủ tục, cần nhiều thời gian. Hơn thế nữa, Quốc hội nước ta làm việc theo kỳ, mỗi năm hai kỳ họp và rõ ràng rằng với dung lượng điều ước quốc tế lớn như vậy thì việc nội luật hóa tất cả điều ước quốc tế vào văn bản luật là khó khăn mà theo tác giả thì nó còn bất khả thi. Vì thế việc chọn lọc chỉ những điều ước quốc tế khung, điều ước mang tính nguyên tắc và các điều ước chưa đủ rõ để nội luật hóa và áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế đã rõ và chi tiết là phù hợp. Từ phân tích trên, chúng ta cũng có thể thấy rõ sự khác biệt giữa nội luật hóa và phương thức làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế.
Phương thức làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế là sự chấp nhận ràng buộc của quốc gia đối với điều ước quốc tế đó, là cơ sở để quốc gia thực hiện hoạt động tiếp theo là nội luật hóa để đưa điều ước quốc tế vào thực thi trong hệ thống pháp luật nước mình. Ở đây, hành vi nội luật hóa xuất hiện sau khi điều ước quốc tế có hiệu lực đối với quốc gia kí kết. Vì thế, không thể đánh đồng cũng như xem nội luật hóa và phương thức làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế là một. Tóm lại, chúng ta có thể đúc kết được rằng nội luật hóa có nghĩa là hành vi pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển hóa các quy phạm của điều ước quốc tế vào trong các quy phạm của pháp luật quốc gia thông qua việc ban hành, sửa đổi, 4 Báo cáo tổng kết thi hành Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2014 của Bộ Ngoại giao 7 Nguyễn Ngọc Phương Nghi Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật bổ sung hoặc bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho điều ước quốc tế được thực hiện đầy đủ trong khuôn khổ quốc gia.2 Đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng nội luật hóa điều ước quốc tế có các đặc điểm như sau: Nội luật hóa là hành vi pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Vì bản chất của nội luật hóa là chuyển hóa quy định của điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia nên hành vi nhằm nội luật hóa bao gồm ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
Do đó, chủ thể thực hiện việc nội luật hóa phải là chủ thể có thẩm quyền thực hiện các hành vi ban hành hay bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật nói trên. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,…5 cho nên những chủ thể nói trên cũng có thẩm quyền nội luật hóa điều ước quốc tế. Quá trình nội luật hóa xảy ra sau khi có hành vi chấp nhận hiệu lực của điều ước quốc tế: Vì nội luật hóa có nghĩa là chuyển hóa quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia mình là thành viên vào trong pháp luật quốc gia nên nhất thiết trước đó phải có hành vi chấp nhận hiệu lực của điều ước quốc tế hay còn gọi là các hành vi biểu thị sự đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước theo như Điều 11 Công ước Viên 1969. Theo đó, nội luật hóa có thể diễn ra trong hai giai đoạn: giai đoạn sau khi quốc gia chấp nhận hiệu lực của điều ước quốc tế và giai đoạn thực hiện điều ước quốc tế.
Nếu như không có hành vi chấp nhận sự ràng buộc như trên, việc chuyển tải quy định của các điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia không được xem là nội luật hóa mà chỉ được xem là sự học hỏi, lấy kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế mà thôi. Như vậy, việc nội 5 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 8 Nguyễn Ngọc Phương Nghi Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật luật hóa xuất hiện sau và cần có tiền đề là việc chấp thuận hiệu lực điều ước quốc tế của quốc gia. Nội dung của văn bản đã “nội luật hoá” phải phù hợp với quy định của điều ước quốc tế được nội luật hóa. Bằng các hành vi xác lập sự ràng buộc của mình đối với điều ước quốc tế, một quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết trong điều ước quốc tế mà mình là thành viên.6 Mà cơ sở để thực hiện điều ước quốc tế trong phạm vi quốc gia là việc nội luật hóa nên nội luật hóa phải đúng thì điều ước quốc tế mới được thực hiện chính xác được.
Vì thế, các quy định được nội luật hóa trong văn bản pháp luật quốc gia phải có nội dung phù hợp với điều ước quốc tế nhằm đảm bảo nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết của quốc gia mình.3 Vai trò của nội luật hóa điều ước quốc tế Để trả lời cho câu hỏi vì sao phải nội luật hóa điều ước quốc tế thì ta cần xác định nội luật hóa có các vai trò như sau: Thứ nhất, nội luật hóa khẳng định sự cam kết tuân thủ, thực hiện điều ước quốc tế của quốc gia thành viên. Một trong những nguyên tắc cơ bản và lâu đời nhất của luật quốc tế là nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế pacta sunt servanda. Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong các văn kiện mang tính nền tảng của luật quốc tế là Hiến chương Liên Hợp quốc, Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc, Công ước viên 1969,…7 Theo nguyên tắc này, các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện một cách tận tâm, đầy đủ, thiện chí và trung thực các nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc và luật quốc tế hiện đại.8 Như vậy, bằng các hành vi ký, trao đổi các văn kiện của điều ước, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia 6 Công ước Viên 1969 quy định: “Điều 26. Pacta sunt servanda Micta sunt servanda servanda quyta sunt servanda servanda và ph6.
Pacta sunt servanda h v ph6. 7 Xem các khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp quốc, Mục 1 Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc và Điều 26 Công ước Viên 1969. 8 Ngô Hữu Phước (2013), Luật quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, trang 152 9 Nguyễn Ngọc Phương Nghi Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận, quốc gia đã cam kết thực hiện các nghĩa vụ được ghi nhận trong các điều ước trên nguyên tắc pacta sunt servanda.
Tuy nhiên, việc chấp nhận sự ràng buộc đối với các cam kết thôi là chưa đủ mà các quốc gia phải đưa các cam kết đó vào thực thi, không chỉ trên bình diện quốc tế với chủ thể là các quốc gia mà còn trong phạm vi lãnh thổ nước mình. Điều đó cho thấy sự tuân thủ chặt chẽ các điều ước quốc tế đã cam kết.