CHƯƠNG 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÀI PHÁN TRÊN TÀU BIỂN 1. Khái niệm và phân loại tàu biển 1. Khái niệm tàu biển Xuất phát từ mục đích, phạm vi, lĩnh vực và đối tượng điều chỉnh khác nhau nên hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm về tàu thuyền hay còn được gọi là tàu biển được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế nói chung và các văn bản pháp luật quốc gia nói riêng.
Trong pháp luật quốc tế, theo Công ước của Liên hợp quốc về điều kiện đăng ký tàu biển năm 1986 thì tàu biển được định nghĩa là bất cứ con tàu nào được sử dụng kinh doanh trên biển quốc tế để chuyên chở hàng hoá, hành khách hay cả hàng hoá và hành khách, ngoại trừ những con tàu có trọng tải dưới 500 GT1. Theo Công ước Hague năm 1924, Hague – Visby năm 1968 thì tàu biển được định nghĩa là bất cứ con tàu nào được sử dụng để vận chuyển hàng hoá trên biển. Theo Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu năm 1973 được sửa đổi bởi Nghị định thư năm 1978, hay còn được gọi là “MARPOL 73/78" định nghĩa tàu biển là bất cứ kiểu tàu nào hoạt động trong môi trường biển, kể cả tàu cánh ngầm, tàu đệm khí, tàu ngầm, phương tiện nổi, cũng như các giàn khoan cố định hoặc nổi. Theo Công ước quốc tế về cứu nạn hàng hải Luân Đôn ngày 28/04/1989, tại điểm b Điều 1 định nghĩa tàu biển là tất cả công trình của biển, các công trình hoặc thiết bị hay kết cấu có khả năng hàng hải.
Bên cạnh các khái niệm trên, còn rất nhiều khái niệm về tàu biển được đề cập trong các điều ước quốc tế về hàng hải khác có liên quan, tuy nhiên có thể đánh giá những khái niệm về tàu biển này chủ yếu mang nội hàm rất rộng và bao quát khi định nghĩa về tàu biển không chỉ bao gồm tàu và các cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng để hoạt động trên biển có chức năng hàng hải mà còn có thể bao gồm tất cả các công trình, thiết bị trên biển hoặc các kết cấu khác có khả năng hàng hải. Điều này xuất phát từ mục đích của các điều ước quốc tế về hàng hải nói chung luôn có xu hướng đưa ra các quy định nhằm mở rộng khả năng điều chỉnh bao quát gần như toàn bộ đối tượng, phạm vi điều chỉnh của điều ước quốc tế đó. Tuy nhiên, khác với các điều ước quốc tế trên, trong quy định của UNCLOS 1982 lại không đưa ra bất cứ khái niệm cụ thể nào về tàu biển nói chung, mà chỉ đề cập một khái niệm duy nhất về tàu chiến tại Điều 29: “Trong Công ước, tàu chiến là mọi tàu thuyền 1 Gross tonnage (GT) là dung tích toàn phần của tàu bao gồm toàn bộ dung tích của các khoảng trống khép kín trên tàu, tính từ boong trên cùng trở xuống, bao gồm cả thế tích ống khói, trừ khoang chứa nước dằn tàu, lối đi lại, buồng vệ sinh, buồng tắm, buồng lái, buồng hải đồ, phòng sửa chữa, kho và dung tích đáy đôi (nếu có). GT là cơ sở dùng để thống kê tàu, biên chế sỹ quan, thuỷ thủ; tính các loại phí hàng hải… 6 thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoài đặc trưng của các tàu thuyền quân sự thuộc quốc tịch nước đó; do một sĩ quan hải quân phục vụ quốc gia đó chỉ huy, người chỉ huy này có tên trong danh sách các sĩ quan hay trong một tài liệu tương đương; và đoàn thuỷ thủ phải tuân theo các điều lệnh kỷ luật quân sự”, nhưng UNCLOS 1982 lại dành một số điều khoản để quy định điều chỉnh về địa vị pháp lý và chế độ hoạt động áp dụng đối với tất cả các loại tàu biển nói chung và đối với từng loại tàu biển nhất định trên các vùng biển khác nhau, như quy định tại Tiểu mục A Mục 3 Phần II là các quy tắc áp dụng chung cho tất cả các loại tàu thuyền, quy định tại Tiểu mục B Mục 3 Phần II là quy tắc áp dụng cho tàu dân sự (hay còn được gọi là tàu thương mại) gồm tàu buôn thuộc sở hữu tư nhân và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích thương mại, quy định tại Tiểu mục C Mục 3 Phần II là quy tắc áp dụng cho tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại.
Ngoài ra, trong pháp luật Việt Nam cũng có đưa ra khái niệm về tàu biển, cụ thể khái niệm về tàu biển theo LBVN năm 2012 tại khoản 3 Điều 3 và BLHHVN năm 2015 tại khoản 1 Điều 4, đều định nghĩa tàu thuyền được hiểu là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ. Bên cạnh đó, quy định tại Điều 13 BLHHVN năm 2015 cũng đưa ra định nghĩa về tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển và tàu biển quy định trong Bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi. So sánh với khái niệm tàu biển theo các điều ước quốc tế trên, có thể thấy khái niệm tàu biển theo pháp luật Việt Nam có nội hàm hẹp hơn, bởi lẽ tàu biển hiểu theo pháp luật Việt Nam được hiểu là bao gồm những con tàu hay các cấu trúc nổi có khả năng di động, chuyên dùng hoạt động trên biển. Ngoài ra, khái niệm tàu biển theo pháp luật Việt Nam còn loại trừ luôn các cấu trúc dù có thể nổi, không có hoặc có khả năng di động, tự dịch chuyển trên biển nhưng không chuyên dùng hoạt động trên biển, tức những cấu trúc này sẽ không được coi là tàu biển theo pháp luật Việt Nam.
Tóm lại, nhằm mục đích phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài thì khái niệm tàu biển trong phạm vi bài nghiên cứu này sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp, không bao gồm tất cả các công trình, thiết bị trên biển hoặc các kết cấu khác có khả năng hàng hải, mà tàu biển chỉ bao gồm các phương tiện hoặc cấu trúc nổi di động chuyên dùng hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước biển bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ, có khả năng hàng hải. Phân loại tàu biển Hiện nay, xuất phát từ các mục đích khác nhau nên tàu biển có thể được phân loại căn cứ theo nhiều tiêu chí khác nhau như: 7 Căn cứ vào cờ của tàu biển, tàu biển có thể được phân thành 02 nhóm là tàu mang cờ quốc tịch và tàu mang cờ phương tiện (FOC – Flag of convenience): - Tàu mang cờ quốc tịch: Tàu được đăng ký quốc tịch ở quốc gia mà chủ tàu có quốc tịch, không phụ thuộc vào việc con tàu được đóng ở đâu. - Tàu mang cờ phương tiện: Trường hợp chủ tàu mang quốc tịch một quốc gia khác với quốc gia mà con tàu đăng ký quốc tịch, tuy nhiên chỉ một số quốc gia cho phép chế độ “đăng ký mở” – cho phép con tàu mà chủ tàu không phải là công dân quốc gia mình được đăng ký quốc tịch và treo cờ quốc gia mình2, hay còn gọi đây là trường hợp tàu mang cờ thuận tiện. Căn cứ mục đích sử dụng của tàu biển, tàu biển có thể được phân thành 02 nhóm là tàu chở hàng (Freighters) và tàu chở hành khách (Passenger ships).
Trong đó, tàu chở hàng được phân thành 03 nhóm: - Tàu chở hàng khô (Dry cargo ship): Hàng ở thể rắn có hoặc không có bao bì, hàng thể lỏng có bao bì, gồm tàu chở hàng bách hóa (General cargo ships), tàu chở hàng rời khối lượng lớn (Bulk carrier), tàu Container (Container ships), tàu kết hợp (Combined ship – OBO (ore/bulk/oil carrier), OO (ore/oil carrier), BO (bulk/oil carrier), ConBulkers (container/bulk) …), tàu chở sà lan (Lighter Aboard Ship – Lash) … - Tàu chở chất lỏng (Liquid cargo ship – Tanker): Hàng hóa ở thể lỏng và không có bao bì, gồm tàu chở dầu thô (crude oil tankers), tàu chở hóa chất (chemical tankers), tàu chở khí đốt hóa lỏng (LPG – Liquefied Petroleum Gas carriers), tàu chở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG – Liquefied Natural Gas carriers), tàu chở khí dầu hóa lỏng (Liquid Petroleum Gas – PNG), tàu chở rượu, tàu chở nước… - Tàu chuyên dụng (Specialized cargo ship): Hàng có yêu cầu xếp dỡ, bảo quản đặc biệt, gồm tàu chở hàng đông lạnh (Reefer cargo ships), tàu chở gỗ (Timbers carrier ship), tàu chở hàng siêu trường/ siêu trọng (Heavy Cargo ships), tàu chở động vật sống (Cattles ships), tàu đánh bắt thủy sản (Fishing vessels), tàu dịch vụ – hỗ trợ (tàu phá băng, tàu lai dắt, tàu cứu hộ, tàu lặn biển, tàu tuần tra, tàu hoa tiêu, tàu cung ứng, tàu chứa…), tàu Roll on/Roll off (RORO ship) … Căn cứ chế độ pháp lý áp dụng đối với tàu biển khi đi lại trên các vùng biển khác nhau, tàu biển được phân thành 02 nhóm chính: - Tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại. 2 Theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 14 BLHHVN năm 2015, Việt Nam là một trong số các quốc gia không cho phép chế độ “đăng ký mở”, tức Việt Nam chỉ có tàu biển Việt Nam mới được mang cờ quốc tịch Việt Nam. 8 - Tàu dân sự (hay còn được gọi là tàu thương mại), gồm tàu buôn thuộc sở hữu tư nhân và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích thương mại. Đây cũng chính là tiêu chí phân loại được UNCLOS 1982 căn cứ áp dụng để phân loại tàu biển thành những nhóm khác nhau qua đó đưa ra các điều khoản quy định về địa vị pháp lý và chế độ hoạt động áp dụng đối với tất cả các loại tàu biển nói chung và đối với từng loại tàu biển trên các vùng biển khác nhau.