Khóa luận phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế, phân tích kinh nghiệm thực tiễn toàn cầu và đề xuất giá trị tham khảo cho Việt Nam.

Chuyên ngành

Công pháp Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế trong luật học

Phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế giữ vai trò then chốt trong quản trị dòng vốn FDI hiện đại. Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy số lượng hiệp định thương mại và đầu tư gia tăng nhanh chóng. Sự gia tăng này cũng kéo theo nguy cơ bùng nổ các vụ kiện giữa nhà đầu tư và nhà nước theo cơ chế ISDS. Các vụ kiện trọng tài quốc tế thường kéo dài nhiều năm và phát sinh chi phí tố tụng khổng lồ. Phán quyết bất lợi có thể gây thiệt hại nặng nề cho ngân sách quốc gia tiếp nhận đầu tư. Hơn nữa, tranh chấp công khai còn làm suy giảm uy tín và môi trường kinh doanh của đất nước. Do đó, việc chuyển dịch tư duy từ ứng phó thụ động sang phòng ngừa chủ động là yêu cầu cấp thiết. Phòng ngừa hiệu quả giúp duy trì mối quan hệ hợp tác ổn định, bền vững với cộng đồng nhà đầu tư. Nghiên cứu khoa học pháp lý về cơ chế phòng ngừa tranh chấp tạo nền tảng vững chắc để hoàn thiện khung pháp luật, bảo vệ tối đa chủ quyền lập pháp và lợi ích kinh tế quốc gia.

1.1. Khái niệm và bản chất cơ chế phòng ngừa tranh chấp đầu tư

Cơ chế phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế bao gồm các quy định pháp luật và biện pháp hành chính được thiết lập để triệt tiêu nguy cơ xung đột lợi ích. Bản chất của cơ chế này là quản trị rủi ro pháp lý sớm. Nhà nước không chỉ tập trung phòng ngự khi nhận đơn kiện mà chủ động rà soát hành vi công vụ từ ban đầu. Quá trình này nhận diện sớm sự không tương thích giữa quyết định hành chính nội địa và các cam kết quốc tế. Việc xử lý bất đồng từ giai đoạn manh nha ngăn chặn sự leo thang pháp lý và bảo vệ quan hệ đầu tư.

1.2. Tầm quan trọng của phòng ngừa tranh chấp đối với thu hút FDI

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi một môi trường pháp lý minh bạch và an toàn. Tranh chấp đầu tư quốc tế kéo dài gây suy giảm niềm tin của giới đầu tư. Các thủ tục trọng tài theo cơ chế ISDS tiêu tốn hàng triệu USD tiền phí luật sư và án phí. Nếu thua kiện, nhà nước phải bồi thường những khoản tiền khổng lồ từ nguồn ngân sách công. Việc chủ động phòng ngừa tranh chấp tạo ra môi trường đầu tư thân thiện và ổn định. Chính phủ duy trì được luồng vốn FDI chất lượng cao và nâng cao uy tín quốc gia.

II. Thực trạng và rủi ro trong phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế

Thực tiễn áp dụng các hiệp định đầu tư quốc tế bộc lộ nhiều thách thức lớn cho các quốc gia đang phát triển. Cơ chế giải quyết tranh chấp nhà nước và nhà đầu tư truyền thống bộc lộ tính chất tốn kém, cứng nhắc và thiếu linh hoạt. Các quy định bảo hộ tiêu chuẩn như Đối xử công bằng và thỏa đáng hoặc Bảo vệ và an ninh đầy đủ thường được giải thích rất rộng. Sự thiếu nhất quán này tạo áp lực lớn lên quyền ban hành chính sách công của chính phủ. Nhiều cơ quan địa phương chưa nắm vững cam kết quốc tế khi ban hành quyết định hành chính hoặc thu hồi giấy phép. Việc thiếu cơ chế cảnh báo sớm khiến các mâu thuẫn nhỏ tích tụ thành tranh chấp phức tạp. Cơ quan trung ương thường chỉ nắm bắt thông tin khi nhà đầu tư đã gửi thông báo ý định khởi kiện ra trung tâm trọng tài như ICSID. Khi đó, thời gian thương lượng và không gian hòa giải trở nên vô cùng hạn hẹp.

2.1. Rủi ro vi phạm các tiêu chuẩn FET và FPS trong hiệp định IIA

Các hiệp định đầu tư song phương và đa phương thường chứa đựng điều khoản bảo hộ nghiêm ngặt. Tiêu chuẩn FET và FPS yêu cầu nhà nước đối xử công bằng, ổn định và không can thiệp tùy tiện vào quyền lợi của nhà đầu tư. Khi chính phủ thay đổi chính sách môi trường hoặc thuế, nhà đầu tư có thể quy kết hành vi này vi phạm cam kết pháp lý. Việc thiếu hướng dẫn áp dụng thống nhất giữa các cấp chính quyền dễ dẫn đến sai phạm công vụ, kích hoạt quy trình kiện tụng quốc tế bất lợi cho nhà nước.

2.2. Hạn chế trong hệ thống cảnh báo sớm và phối hợp liên ngành

Nhiều quốc gia thiếu một kênh thông tin tập trung để ghi nhận phản ánh từ doanh nghiệp FDI. Các cơ quan quản lý chuyên ngành và chính quyền địa phương thường xử lý vấn đề độc lập, thiếu sự liên kết chặt chẽ. Khi phát sinh mâu thuẫn về giấy phép hay hợp đồng đầu tư, thông tin không được chuyển kịp thời tới cơ quan đầu mối pháp lý trung ương. Sự chậm trễ này làm mất đi giai đoạn hòa giải vàng. Thiếu hụt cơ chế đối thoại định kỳ biến các xung đột nhỏ thành vụ kiện trọng tài phức tạp.

III. Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế

Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng thành công các chính sách và cơ chế phòng ngừa tranh chấp đầu tư hiệu quả. Mô hình tiêu biểu là thành lập Cơ quan Chính phủ Cấp cao chịu trách nhiệm giám sát toàn diện các vấn đề đầu tư. Điển hình như Colombia, nước này giao cho Bộ Thương mại, Công nghiệp và Du lịch phối hợp liên ngành nhằm đánh giá trước mọi rủi ro pháp lý. Các quan chức trước khi ban hành chính sách đều chủ động tham vấn văn phòng chuyên trách để bảo đảm tuân thủ nghĩa vụ quốc tế. Ngoài ra, việc lồng ghép các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế như hòa giải và thương lượng vào hiệp định đầu tư thế hệ mới là xu hướng phổ biến. Việc thiết lập hệ thống cảnh báo sớm giúp phát hiện mâu thuẫn ngay từ cơ sở. Những kinh nghiệm quý báu này minh chứng rằng sự chủ động, tính minh bạch và phối hợp liên ngành đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu nguy cơ kiện tụng quốc tế.

3.1. Bài học thành công từ mô hình cơ quan HLGB tại Colombia

Colombia là hình mẫu tiêu biểu trong việc áp dụng mô hình cơ quan chính phủ cấp cao HLGB để ngăn chặn tranh chấp đầu tư. Hệ thống này bắt buộc các cơ quan hành chính phải báo cáo ngay khi phát sinh xung đột với nhà đầu tư nước ngoài. Bộ Thương mại đóng vai trò thẩm định, phân tích rủi ro và điều phối biện pháp xử lý hòa bình trước khi tranh chấp bùng nổ. Mô hình này nâng cao nhận thức pháp lý của cán bộ công chức, giúp Colombia giảm thiểu đáng kể số lượng vụ kiện trọng tài tốn kém tại ICSID.

3.2. Ứng dụng phương thức giải quyết tranh chấp thay thế ADR

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA khuyến khích tối đa việc sử dụng cơ chế ADR. Hòa giải và trung gian thương lượng tạo không gian đối thoại cởi mở, bảo mật giữa nhà đầu tư và cơ quan nhà nước. Các bên có thể tìm kiếm giải pháp linh hoạt về thương mại thay vì đối đầu pháp lý căng thẳng. Quy trình tham vấn tiền tố tụng bắt buộc giúp xác định rõ thực chất bất đồng, tạo điều kiện tháo gỡ rào cản hành chính nhanh chóng và tiết kiệm chi phí tố tụng.

IV. Giải pháp phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế cho Việt Nam

Việt Nam đang hội nhập sâu rộng thông qua các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và VKFTA. Lượng vốn FDI chảy vào nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu cấp bách về quản trị rủi ro pháp lý. Để phòng ngừa tranh chấp đầu tư hiệu quả, Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Trước hết, hệ thống pháp luật đầu tư cần được hoàn thiện theo hướng minh bạch và đồng bộ với các cam kết quốc tế. Cần xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương. Bộ Tư pháp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp chặt chẽ trong vai trò cơ quan đầu mối quốc gia. Việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật quốc tế cho đội ngũ cán bộ công chức địa phương phải được thực hiện thường xuyên. Chủ động phòng ngừa là chìa khóa duy trì môi trường đầu tư an toàn và củng cố vững chắc chủ quyền pháp lý quốc gia.

4.1. Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành và đào tạo cán bộ pháp lý

Việt Nam cần thiết lập một quy chế điều phối liên bộ và liên ngành rõ ràng giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và chính quyền các tỉnh thành. Khi có vướng mắc phát sinh với nhà đầu tư, địa phương phải báo cáo ngay để nhận hướng dẫn pháp lý kịp thời. Bên cạnh đó, công tác đào tạo chuyên sâu về luật quốc tế, các cam kết trong IIA và kỹ năng xử lý tranh chấp cho cán bộ thực thi là vô cùng cấp thiết. Đội ngũ công chức vững chuyên môn sẽ hạn chế tối đa các sai phạm hành chính dẫn tới khiếu kiện.

4.2. Thiết lập cổng thông tin tiếp nhận phản ánh và hòa giải sớm

Việc vận hành cổng thông tin điện tử tiếp nhận và xử lý kiến nghị trực tiếp từ các doanh nghiệp FDI giúp giải quyết vướng mắc nhanh chóng. Cơ chế này tạo môi trường đối thoại thẳng thắn giữa cơ quan quản lý và nhà đầu tư. Song song đó, Việt Nam cần luật hóa và khuyến khích các thủ tục hòa giải, thương lượng trước tố tụng trong các hợp đồng dự án công tư và dự án FDI. Giải pháp hòa giải linh hoạt giúp bảo vệ môi trường kinh doanh và giữ chân nguồn vốn nước ngoài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHONG NGỪA TRANH CHAP DAU TƯ QUOC TE Chương này tác gia sẽ tiến hành phân tích lịch sử hình thành ly thuyết từ tranh chấp đầu tư quốc tế đến vai trò của phương thức phòng ngửa tranh chap đầu tư quốc tế, xuất phát từ bối cảnh cơ chế phòng ngừa này được đề ra. Khái niệm tranh chấp đầu tư quốc tế 1. Khái niệm tranh chấp dau tư quốc tế Theo Toà án Công lý Quốc tế (ICI, “tranh chấp là một sự bất đồng về một van đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên”3. Theo từ điển Tiếng Việt được biên soạn bởi tập thể Phòng từ điển, Viện ngôn ngữ học thuộc Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, và được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ghi nhận cụm từ “tranh chấp” với nghĩa như sau “tranh chấp là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bat đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”?.

Song thực tế, tranh chấp thì có nhiều loại tranh chap với tính chất khác nhau. Ở khía cạnh pháp lý, khái niệm tranh chấp đầu tư quốc tế được quy định cụ thé trong các điều ước quốc tế. Cụ thé, khoản 1 Điều 25 Công ước về Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia khác (Convention on the Settlement of Investment Disputes between States and Nationals of Other States - the ICSID Convention) được soạn bởi Ban Giám đốc Điều hành Ngân hàng Tái thiết va Phát triển Quốc tế (International Bank for Reconstruction and Development) ghi nhận “Tham quyền của Trung tâm sẽ mở rộng đến bắt kỳ tranh chấp pháp lý nào phát sinh trực tiếp từ một khoản dau tu, giữa một Quốc gia ký kết (hoặc bat kỳ cơ quan hoặc đơn vị cấu thành nào của Quốc gia ký kết được quốc gia đó chỉ định cho Trung tâm) và một công dan của một Quốc gia kỷ kết khác, mà các bên trong tranh chấp đông ý bang văn bản dé đệ trình lên Trung tâm. Khi các bên đã đưa ra sự động ý, không bên nào có thể don ? International Court of Justice (2021), “Mavrommatis Palestine Concessions”, littps://www.org/sites/default/files/permanent-court-of-international- justice/serie A/A_ 02/06 Mavrommatis en Palestine Arret.pdf , truy cập ngày 18/01/2025 4 Hoàng Phê (2003), “7# điển Tiếng Việt”, https://archive.org/details/tu-dien-tieng-viet-vien-ngon-ngu- hoc/page/n3/mode/2up, truy cập ngày 18/01/2025 phương rit lại sự dong ý dé”.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều IX của Hiệp định mẫu về Đầu tư song phương (Bilateral Investment Treaties - BIT) của Hoa Kỳ năm 1994 (được sửa đối năm 1998), trong đó quy định các nguyên tắc liên quan đến “tranh chấp đầu tư”, đã nêu rõ ràng: “Cho mục dich của Hiệp định này, một tranh chấp đâu tư là tranh chấp giữa một quốc gia và một cá nhân hoặc công ty của quốc gia kia phát sinh từ hoặc liên quan đến một giấy phép dau tư, một thỏa thuận dau tư hoặc một hành vi vi phạm bi cao buộc đối với bắt kỳ quyền nào được trao, tạo ra hoặc công nhận bởi Hiệp định này liên quan đến một khoản đầu tư được bảo hộ 5. Khi áp dụng các hiệp định đầu tư, việc đầu tiên mà các chính phủ, nhà đầu tư và trọng tài thường phải trả lời trước tiên là hiệp định áp dụng đối với những đối tượng, những giao dịch nào và loại tài sản nào. Về cơ bản, phạm vi áp dụng của các hiệp định đầu tư đựa trên hai yêu tố sau, thứ nhất là “nhà đầu tư” được bảo hộ và thứ hai là “khoản đầu tư” được bảo hộ. Chính vì vay, trong hầu hết các tranh chấp đầu tư quốc tế từ trước đến nay, một trong những nội dung mà gây ra nhiều tranh luận trái chiều từ giai đoạn đầu là liệu Hội đồng trọng tài có thâm quyền giải quyết vụ tranh chấp hay không, hay nói cách khác là khoản đầu tư và nhà đầu tư trong tranh chấp đó có thuộc phạm vi điều chính của hiệp định đầu tư hay không”.

Khái niệm của đầu tư không chỉ giới hạn ở đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) mà còn có thé bao gồm đầu tư trong danh mục dau tư, nếu có quy định trong Hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment Agreements - IIA) liên quan như Hiệp định BIT. Theo đó, việc xác định liệu một tranh chấp có phát sinh từ đầu tư hay không sẽ được xem xét theo từng trường hợp cụ thể, và quan điểm của các bên không mang tính quyết địnhŠ. Từ những phân tích và nhận định nêu ở trên, trong phạm vi Khoá luận này, “Tranh chấp dau tư quốc tế là những bat đồng hoặc mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa > World Bank (2023), “Convention on the Settlement of Investment Disputes between States and Nationals of Other States”, lttps://icsid.org/sites/default/files/ICSID Convention EN.pdf, truy cập ngày 18/01/2025 ®° Electronic Database of Investment Treaties (2023), “United States Model BIT (1998)”, https://edit.org/document/show/0e622a3e-abbd-4387-82ea-c06 122403840, truy cập ngày 18/01/2025 7 Pháp luật quốc tế (2025), https://moj.vn/tttp/tintue/Pages/giai-quyet-tranh-chap.aspx?ItemID=2&utm_, truy cập ngày 13/03/2025 ° UN Trade and Development (2003), “Dispute settlement: Investor-state”’, https://unctad.org/systemfiles/official-document/iteiit30_en.pdf, truy cập ngày 18/01/2025 vụ giữa các chủ thé trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, phát sinh giữa các nhà đầu tư với quốc gia tiếp nhận đầu tư liên quan đến việc giải thích hoặc thực thi các Hiệp định đầu tư quốc tế (IIA)”. Nhìn chung, tranh chấp đầu tư quốc tế có đặc điểm sau: Thứ nhất, trong tranh chấp dau tư quốc tế, nguyên đơn là nhà dau tư nước ngoài và bị đơn là quốc gia tiếp nhận đầu tư Đây là một đặc điểm quan trọng xuất phát từ bản chất của tranh chấp đầu tư quốc tế.

Chúng ta có thé thay, nha đầu tư nước ngoài thường là các đoanh nghiệp hoặc cá nhân đầu tư vốn, công nghệ vào một quốc gia khác, trong khi quốc gia tiếp nhận đầu tư là bên đưa ra các chính sách, quy định dé chi phối hoạt động đầu tư tại nước sở tại. Chính vì vậy, khi nhà đầu tư nước ngoài cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm do hành vi hoặc chính sách của quốc gia tiếp nhận đầu tư thì đó cũng là lúc mam mống của tranh chấp đầu tư quốc tế ra đời. Những hành vi của quốc gia tiếp nhận đầu tư được coi là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đầu tư quốc tế có thé bao gồmcác hành vi sau: Quốc gia tiếp nhận đầu tư vi phạm các cam kết trong các hiệp định đầu tư; Quốc gia tiếp nhận dau tư có sự thay dévé chính sách pháp Igây ra những tác động tiêu cực, bất lợi cho nhà đầu; hoặQuốc gia tiếp nhận đầu tư có hành vi cưỡng chế, tịch thu tài san mà không bồi thường thỏa đáng cho Nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài luôn đóng vai trò là bên yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các cơ chế giải quyết tranh chấp, trong khi quốc gia tiếp nhận đầu tư phải chịu trách nhiệm giải trình và bảo vệ các chính sách của mình.

Đặc điểm này cũng phản ánh sự bat cân xứng trong vị thé pháp lý giữa hai bên, khi một bên là thực thé tư nhân và bên kia là một quốc gia có chủ quyền, dẫn đến sự khác biệt trong cách tiếp cận và giải quyết tranh chấp. Thứ hai, trong tranh chấp đâu tr quốc tế, bị don là quốc gia - một chủ thé đặc biệt được hưởng quyền miễn trừ tư pháp trong quan hệ với quốc gia khác Khác với các tranh chấp thương mại thông thường giữa các thực thê tư nhân, quốc gia là một chủ thể có chủ quyền và được hưởng quyền miễn trừ tư pháp theo luật pháp quốc tế. Quyền miễn trừ tư pháp bảo vệ quốc gia khỏi việc bị bất kỳ cơ quan nhà nước nào tiến hành xét xử, áp dung các biện pháp nhăm bảo đảm cho vụ kiện, thi hành án đối với quốc gia cũng như áp dụng các biện pháp như tịch thu tài sản, sai áp, bắt giữ. các tài sản thuộc sở hữu của quốc gia, trừ khi quốc gia đó đã 6 đồng ý từ bỏ miễn trừ trong các hiệp định đầu tư song phương (BIT).

Ngày nay, trong bồi cảnh hội nhập quốc ngày càng sâu rộng, nhiều quốc gia đã từ bỏ quyền miễn trừ tuyệt đối và chấp nhận quyền miễn trừ tương dối. Đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, nhiều quốc gia đã cam kết từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp. Điều đó có nghĩa, các quốc gia đó chấp nhận chịu sự tài phán của cơ quan giải quyết tranh chấp, chang hạn như ICSID hoặc UNCITRAL. Dù vậy, yêu tố chủ quyền van tạo ra sự khác biệt trong quá trình giải quyết tranh chấp, khi quốc gia có thể viện dẫn lợi ích công cộng, an ninh quốc gia hoặc chính sách kinh tế dé bảo vệ lập trường của mình.

Điều này cho thấy, dù bị đơn trong tranh chấp đầu tư quốc tế là một thực thể có nghĩa vụ pháp lý, nhưng với tư cách là một quốc gia có chủ quyền, họ vẫn có những quyền đặc biệt không áp dụng cho các chủ thể tư nhân. Thứ ba, trong tranh chấp đâu tư quốc tế, khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư tại một quốc gia, họ phải tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia sở tại Điều này xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền của mỗi quốc gia trong việc quản lý, điều chỉnh các hoạt động kinh tế, bao gồm cả đầu tư nước ngoài, trên lãnh thổ của mình. Các quy định này có thé liên quan đến cấp phép đầu tư, thuế, lao động, bảo vệ môi trường, hoặc những lĩnh vực đặc biệt như tai chính và viễn thông. Sự tuân thủ pháp luật địa phương không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn giúp nhà đầu tư giảm thiêu rúi ro tranh chấp với chính phủ nước sở tại.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi quốc gia tiếp nhận đầu tư thay đổi chính sách hoặc áp dụng các biện pháp hành chính bat lợi cho nhà đầu tư, tranh chấp có thé phat sinh. Khi đó, nhà đầu tu thường dựa vào các cam kết trong hiệp định đầu tư song phương (BIT) hoặc điều ước quốc tế dé bảo vệ quyền lợi của mình. Do đó, việc tuân thủ pháp luật quốc gia sở tại không chỉ là trách nhiệm của nhà đầu tư mà còn là một yêu tố quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của các yêu cầu trong tranh chấp đầu tư quốc tế. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp đâu tư quốc tế Thứ nhất, số lượng nhiều đáng kể của hiệp định khuyên khích và bảo hộ đầu tư giữa các quốc gia Vào năm 2025, trên thế giới đang có 2844 Hiệp định đầu tư song phương (BIT), trong số đó đã có 2223 Hiệp định chính thức có hiệu lực°.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ