CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN THỤ TINH BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN TỪ TINH TRÙNG CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT TẠI HOA KỲ 1.1 Khái quát về quyền thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh trùng của người đã chết tại Hoa Kỳ 1. Lịch sử hình thành quyền thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh trùng của người đã chết tại Hoa Kỳ Về lịch sử của phương pháp thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh trùng của người còn sống từ thập niên 70, 80 của thế kỉ XX. Năm 1978, phòng khám về sinh sản đầu tiên được thành lập ở Mỹ tại Trường Y khoa Đông Virginia. Năm 1981, Elizabeth Jordan Carr trở thành em bé đầu tiên sinh ra ở Mỹ - là người thứ 15 trên thế giới được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản1.
Cho đến nay, Công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) đã mang lại tiến bộ vượt bậc không chỉ trong y học sinh sản mà còn có tác động lớn đối với luật pháp trên vô số lĩnh vực pháp lý như Hiến pháp, Luật gia đình, Luật về sức khỏe, Luật thừa kế,. Để tạo ra một phương pháp mới để sinh con, buộc các nhà hoạch định chính sách và pháp lý phải nghĩ ra một mô hình pháp lý mới. ART tác động lên nhiều lĩnh vực pháp lý khác nhau, tuy nhiên, tác động đáng chú ý nhất là trên lĩnh vực về Luật gia đình và quyền sinh sản. Trong suốt những năm 1960 và 1970, Luật sinh sản được xác định bởi các vấn đề về hiến pháp về lựa chọn sinh sản, tránh thai, triệt sản bắt buộc và điều gây tranh cãi nhất: phá thai.
Sau phán quyết của Tòa án tối cao năm 1973 về vụ việc Roe vs Wade, Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa việc phá thai thì ART đã gây phẫn nộ công chúng trên diện rộng, đặc biệt là những người theo đạo công giáo ở Hoa Kỳ2. Họ phản đổi tất cả các hình thức thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì nó cổ xúy cho tội ác thủ dâm và phớt lờ sự quan trọng của tình yêu và giao hợp. Lời chỉ trích về việc thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh dịch của người hiến tặng là một hình thức ngoại tình và làm thúc đẩy tệ nạn thủ dâm. Tuy nhiên, đầu những năm 1990, một số bang vẫn thông qua luật lưỡng 1 Charis Thomson, “IVF Global Histories, USA: between Rock and a makerplace 2 Susan L.
Edmonds, The History and Future Trends of ART Medicine and Law (08 Feb 2021) 9 đảng cho phép các chương trình bảo hiểm y tế cho thụ tinh ống nghiệm IVF (In Vitro Fertilization) vì lý do IVF giúp xây dựng gia đình. Để giúp ngành này chứng minh với các chuyên gia, bệnh nhân/người tiêu dùng và chính phủ rằng ngành này có thể tự điều chỉnh một cách thỏa đáng. Năm 1986, Hiệp hội công nghệ hỗ trợ sinh sản (SART), một tổ chức chuyên nghiệp được thành lập để báo cáo kết quả, bắt đầu thu thập dữ liệu từ các phòng khám thành viên với sự hợp tác của CDC (Centers for Disease Control and Prevention). Sau đó, đạo Luật chứng nhận tỷ lệ thành công của các phòng khám3 - còn được gọi là “Luật Wyden” đã được thông qua thành luật liên bang vào năm 1992, yêu cầu CDC thu thập dữ liệu về tỷ lệ thành công của phòng khám.
Vào năm 2013, đã có 467 phòng khám công nghệ sinh sản được hỗ trợ báo cáo ở Hoa Kỳ, khoảng 1,5% trẻ em sinh ra ở Hoa Kỳ được sinh ra bằng phương pháp khoa học. Điều này chứng tỏ sự phát triển rất nhanh chóng của ART ở Hoa kỳ. Năm 1988, Đạo luật cải thiện phòng thí nghiệm lâm sàng (CLIA) được đặt ra. Các loại thuốc và thiết bị được sử dụng cho thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (IUI) được quản lý bởi Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm liên bang (FDA).
Ngoài ra, điều khoản dự luật phân bố trong tu chánh án Dickey-Wicker cấm Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh sử dụng quỹ liên bang để tạo hoặc phá hủy phôi cho mục đích nghiên cứu.4 Tuy nhiên sự ra đời của ART cũng thách thức 3 vấn đề về pháp lý. Thứ nhất, với tình huống hình thành phôi thai bằng cách chọn lọc tinh trùng đã hạn chế khả năng áp dụng các quyền trong Hiến pháp được thiết lập bởi Tòa án tối cao liên quan đến cơ thể và quyền riêng tư về sinh sản của phụ nữ. Thứ hai, vì khả năng bảo quản đông lạnh của phôi thai và tinh trùng kéo dài vài thập kỷ và có thể hơn thế nữa, nên từ góc độ Luật gia đình, Ủy thác và Di sản, tất cả các điều luật về xác định cha mẹ - con cái dựa trên thời kỳ mang thai 9 tháng đã chết hiệu lực và trở nên lỗi thời. Không chỉ vậy, nó còn xảy ra vô số tranh chấp khác như tranh chấp về quyền nuôi con, huyết thống giữa các bệnh nhân tạo ra chúng, sơ suất của các nhà cung cấp về việc lưu trữ, vận chuyển.
Về mặt thủ tục, các vấn đề cũng nảy sinh về thời hạn và xung đột pháp lý. Cuối cùng, những người con được sinh ra từ phương pháp ART sẽ được thiết lập quyền nhân thân thế nào? Là người hiến tặng mô sinh sản, người hiến giao tử hay người mang thai hộ? Vì vậy tất cả những quyền hợp pháp trở nên xung đột với nhau, bao gồm những quyền trong Hiến pháp và 3 [Mục 2(a) của PL 102–493 (42 USC. Kiessling, PhD The History of the Dickey-Wicker Amendment (August 24, 2010) 10 những nghĩa vụ của họ. Có rất ít tiền lệ pháp được áp dụng trực tiếp để giải quyết các tranh chấp đó.
Luật gia đình trong đó có luật thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được xây dựng theo khuôn mẫu chủ yếu chỉ tập trung vào việc đảm bảo các quyền và trách nhiệm làm cha mẹ hợp pháp của người chồng. Vì ART nổi lên ở Hoa Kỳ trong bối cảnh chính trị phức tạp, mức độ quản lý liên bang thấp, thiếu một số hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn cầu,. do đó nó được sử dụng vào mục đích thương mại cho những người giàu có ở Hoa Kỳ, điều này tạo ra hàng loạt các ngân hàng tinh trùng tư nhân lớn và có thể “mua sắm” tinh trùng qua internet cho phép người nhận chọn lựa các đặc điểm thể chất, xem xét ảnh, mẫu chữ viết tay, bản ghi âm giọng nói của người “bán” tinh trùng. Tính ẩn danh của người bán đã dần hình thành một cách nghịch lý và rộng rãi gây ra nhiều vấn đề về huyết thống và loạn luân.
Vì vậy, Hoa Kỳ đã cấm việc ẩn danh tính của người hiến tặng tinh trùng, điều này Hoa Kỳ đã đi sau nhiều quốc gia khác. Cho đến nay, 3 bang đã thông qua luật nhằm trừng phạt các hành động ẩn danh người cho tinh trùng. Một điều đáng chú ý là việc phẫu thuật lấy tinh trùng từ một cá thể đã chết hoặc hôn mê được báo cáo từ năm 1978 đã đặt ra nhiều câu hỏi pháp lý và đạo đức. Việc yêu cầu lấy giao tử từ một cá nhân đã chết hoặc không đủ năng lực hầu như luôn liên quan tới những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và rất xúc động, rất có thể xảy ra trong trường hợp khẩn cấp và trong sự đau buồn khẩn thiết của những người liên quan.
Các trường hợp bảo quản lạnh khi lấy tinh trùng của người đã chết được sử dụng cho mục đích sinh sản của những người liên quan được gọi là PRM (Postmortem Reproduction). Tuy nhiên, nó đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt đạo đức. Đầu tiên, liệu người đã chết có tán thành việc cho tinh trùng hay không? Thứ hai, ngay cả khi có sự đồng ý thì các bác sĩ có được thực hiện hay không? Trong trường hợp này, nếu cả người vợ và người chồng đều mong muốn thực hiện, thì tinh trùng của người chồng giúp ích được cho người vợ, một cuộc sống mới được tạo ra sau cái chết của người chồng. Dường như nó không tạo ra hậu quả gì tiêu cực và phải hợp lệ về mặt đạo đức thì mới được thực hiện.
Sự đồng ý về mặt đạo đức có 3 thành phần: (1) bệnh nhân/người vợ phải có khả năng đưa ra quyết định; (2) vấn đề phúc lợi của đứa trẻ sau này; (3) phải có sự tự nguyện đồng ý của người cho tinh trùng mà không bị ép buộc. Vì vậy để hợp lý về mặt đạo đức, việc lấy tinh trùng từ người đã chết bắt buộc phải có tài liệu cho phép bằng văn bản từ người đã chết hoặc những bằng chứng liên quan như hai vợ chồng từng cố gắng thụ tinh nhiều lần nhưng không được. Dựa vào Đạo luật cho phép người đã chết hoặc người thân còn sống hiến tặng một số 11 bộ phận nội tạng của người đã chết cho các mục đích nhất định, chẳng hạn như tặng cho những người cần hoặc cho nghiên cứu y học được chỉnh sửa năm 2006, ở Hoa Kỳ cho phép những người thân có quyền lấy tinh trùng của người đã chết nhằm lưu trữ bảo quản đông lạnh phục vụ cho việc sinh sản. Tính kế thừa tinh trùng được nhắc đến đầu tiên trong vụ Hecht v.
The Superior Court of Los Angeles vào năm 1993. Kane đã tự kết liễu đời mình, trước đó ông đã gửi tinh trùng của mình vào một ngân hàng tinh trùng và để lại một văn bản cho phép những người tình của mình được sử dụng nó và sinh con của họ. Con của Kane đã nộp đơn lên tòa án ở Los Angeles yêu cầu hủy tinh trùng và đã được đồng ý. Sau đó Hecht đã kiện lên tòa án liên bang California và tòa án này đã hủy kết quả trước đó của tòa án Los Angeles.
Hiện nay tùy từng bang mà sẽ có quy định riêng cho phép PRM cần hoặc không cần văn bản cho phép của người mất. Quyền thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh trùng của người đã chết xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ5, đây là quốc gia tiên phong mở đường cho quyền táo bạo này, mặc dù còn tồn tại nhiều quan điểm, tranh luận trái chiều khác nhau về mặt pháp lý cũng như đạo đức, tuy nhiên quyền thụ tinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ người đã chết ở Mỹ vẫn thể hiện được sự dân chủ và mang đến ý nghĩa đặc biệt cho gia đình người đã chết.