CHƯƠNG 1 VỐN GÓP THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Cơ sở lý luận về vốn góp thành lập công ty cổ phần 1. Tài sản góp vốn Tài sản dùng để góp vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng tiền 1. Tài sản này theo pháp luật dân sự còn được hiểu dưới dạng phân nhóm là bất động sản và động sản, trong đó, bất động sản gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất, còn động sản là những gì không phải là bất động sản.
Đặc điểm pháp lý của tài sản góp vốn a) Quyền sở hữu Pháp luật dân sự quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu 3. Với đặc quyền này, chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản góp vốn mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật.4 b) Hình thức sở hữu tài sản Hình thức sở hữu là cách thức chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với một tài sản. Xuất phát từ Hiến pháp năm 2013 5, có ba hình thức sở hữu tài sản gồm sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu riêng. Trong đó, sở hữu toàn dân như đất đai, tài nguyên khoáng sản, nước và tài nguyên thiên nhiên khác do nhà 1 khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp.
4 khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp. 5 Điều 32; 53 Hiến pháp năm 2013. 8 nước thống nhất quản lý; sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể và sở hữu riêng là do cá nhân hoặc pháp nhân sở hữu, điểm đặc biệt của hình thức sở hữu riêng là cá nhân, pháp nhân không bị hạn chế về số lượng và giá trị. 6 Như vậy, công ty cổ phần là pháp nhân nên tài sản góp vốn thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế số lượng và giá trị tài sản.
c) Định giá tài sản góp vốn Tài sản không phải bằng tiền, ngoại tệ, vàng thì phải được định giá và được thể hiện bằng tiền Đồng Việt Nam. Khi thành lập doanh nghiệp, tài sản phải được CĐSL định giá theo nguyên tắc đồng thuận, nếu có tổ chức thẩm định giá tham gia định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% CĐSL chấp thuận. Trường hợp định giá cao hơn so với giá trị thực tế của tài sản định giá thì CĐSL phải liên đới góp thêm bằng số chênh lệch này tại thời điểm kết thúc định giá, đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế 7 Về nguyên tắc, những gì được gọi là tài sản thì có thể đem góp vốn nhưng tài sản này phải xác định được giá trị và có thể giao dịch được trên thị trường.8 d) Chuyển quyền sở hữu tài sản Thời điểm chuyển quyền sở hữu này có ý nghĩa phân định ai là người có quyền tiếp tục chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản, trong đó, quan trọng nhất là quyền sử dụng - để hưởng quyền lợi về mặt kinh tế. Điều 189 BLDS 2015 quy định, quyền sử dụng tài sản là quyền khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức, hoa lợi nên khi chuyển giao quyền này phải theo thoả thuận hoặc quy định pháp luật.
Với quy định này, khi chuyển giao quyền sở hữu là chuyển giao luôn các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Luật Doanh nghiệp quy định tài sản có hoặc không phải đăng ký đều phải chuyển quyền sở hữu theo thủ tục hành chính tại cơ quan chức năng, riêng với các tài sản không cần đăng ký thì chỉ cần văn 6 Điều 197; 205; 207 BLDS 2015. 7 Điều 36 Luật Doanh nghiệp. 8 Phạm Hoài Huấn (chủ biên), Bình luận bản án các tranh chấp điển hình trong quản trị công ty, Nxb.
Chính trị Quốc gia sự thật, 2021, tr. 9 bản giao nhận; chứng từ thanh toán thông qua tài khoản (Điều 35 Luật Doanh nghiệp). Luật Doanh nghiệp cũng quy định, chỉ chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đó mới có quyền đưa tài sản của mình đem đi góp vốn và phải thông qua thủ tục chuyển giao quyền sở hữu.9 Như vậy, việc chuyển tài sản góp vốn sang doanh nghiệp có thể phân thành 4 nhóm: (i) nếu tài sản là tiền, ngoại tệ, vàng thì chỉ cần phiếu thu tiền, biên bản giao nhận, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, (ii) tài sản không phải đăng ký tài sản: cần văn bản giao dịch góp vốn; văn bản giao nhận, (iii) tài sản phải đăng ký tài sản, không cần định giá: văn bản đăng ký, văn bản giao nhận (iv) nhóm tài sản còn lại như quyền sử dụng đất, nhà ở, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ; tài sản khác thì cần có hợp đồng góp vốn; văn bản định giá hoặc văn bản đăng ký quyền sở hữu tài sản và văn bản giao nhận. e) Đăng ký quyền sở hữu tài sản Đăng ký quyền sở hữu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản trong quan hệ dân sự.
Việc đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản sẽ cho phép nhận dạng tài sản một cách chính xác nên phải đăng ký.10 Đăng ký quyền sở hữu còn là cơ sở để giải quyết vụ việc nếu có tranh chấp phát sinh. Đối với tài sản là động sản thì không phải đăng ký nhưng trong một số trường hợp vẫn phải đăng ký như tàu biển; phương tiện nội thủy; tàu cá; phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; tàu bay; phương tiện giao thông đường sắt; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.11 Việc đăng ký là sự mong muốn bảo vệ quyền chủ thể và sự bình ổn, trật tự trong cuộc sống dân sự, tiêu biểu nhất là 9 khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp; khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp. 11 Xem thêm: Tàu biển (Nghị định 171/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 quy định về đăng ký, xóa đăng ký và mua, bán, đóng mới tàu biển); phương tiện nội thủy địa ( Luật Giao thông đường thủy nội địa sửa đổi, bổ sung năm 2014); tàu cá (Thông tư 23/2018/TT-BNNPTNT ngày 15 tháng 11 năm 2018); Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ( Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 quy định về đăng ký xe); Tàu bay ( Nghị định 68/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 08 năm 2015); Phương tiện giao thông đường sắt (Thông tư 21/2018/TT-BGTVT ngày 27/4/2018); Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ( Luật Di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung năm 2009); Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ( Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017). 10 hai mô hình: đăng ký xác lập quyền và đăng ký để đối kháng quyền với người thứ ba.12 Tóm lại, tài sản góp vốn là những tài sản bằng tiền hoặc không bằng tiền nhưng phải có giá trị sử dụng và xác định được giá trị.
Tài sản này thuộc chủ sở hữu hợp pháp của người góp vốn và phải được chuyển quyền sở hữu sang công ty, trường hợp tài sản thuộc diện phải đăng ký tài sản thì bắt buộc phải thực hiện thủ tục hành chính này tại cơ quan chức năng theo quy định. Công ty cổ phần giai đoạn thành lập Nhà luật học Friedrich Küblerr Cộng hoà Liên bang Đức quan niệm rằng: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt một mục tiêu chung nào đó”.13 Hay như Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp quy định: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó”. Việc phân loại hình doanh nghiệp có một số cách khác nhau, nếu theo hình thức sở hữu và mục đích hoạt động thì có doanh nghiệp tư và doanh nghiệp công trong đó, doanh nghiệp công do nhà nước sở hữu và chi phối chiến lược kinh doanh, nếu theo qui mô kinh doanh thì có doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, nếu theo sự liên kết thì có doanh nghiệp độc lập hay những tập đoàn, nhóm công ty, công ty đa quốc gia. 14 Tuy nhiên, hình thức phân loại phổ biến và cơ bản nhất vẫn là phân 12 Nguyễn Ngọc Điện (2012), Đăng ký bất động sản tại Việt Nam - các vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6(214), tháng 3/2012.
13 Xem thêm: GS. Friedrich Kübler, một giáo sư hàng đầu về pháp luật công ty, người đã tham vấn trong việc hình thành Luật Công ty năm 1990 của Việt Nam do Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chủ trì. Sau khi Bộ trưởng Tư pháp báo cáo, Chính phủ nhất trí trình chính thức phương án của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và đồng ý để Bộ trưởng Tư pháp báo cáo Quốc hội phương án phân biệt công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Quốc hội đã chọn phương án công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Nguyễn Am Hiểu (2021), “Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp và vài dấu ấn khó quên”, Trang thông tin hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp, https://htpldn.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=81&l=Bantin, truy cập ngày 21/8/2022. 14 Phạm Duy Nghĩa (2011), Giáo trình Luật kinh tế (tái bản lần 3), Nxb. Công an Nhân dân, Trường Đại học Kinh tế TP. 11 loại theo hình thức pháp lý.
Căn cứ pháp luật hiện hành, hình thức pháp lý của doanh nghiệp gồm công ty TNHH (bao gồm công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên); công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, Việt Nam còn có mô hình tổ chức kinh tế tập thể là hợp tác xã; liên hiệp hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 nên không phải là doanh nghiệp.15 Công ty cổ phần tại Việt Nam phát triển thực chất từ khi có Luật Công ty năm 1990 và nhất là sau khi có chương trình cổ phần hóa từ năm 1992. Công ty cổ phần hình thành từ ba nhóm: từ doanh nghiệp quốc doanh, từ khu vực dân doanh và từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy chế pháp lý phức tạp, khắt khe nên chỉ phù hợp với cơ sở kinh doanh có qui mô tương đối lớn.