CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Human Papillomavirus Ung thư cổ tử cung là bệnh xảy ra ở cổ tử cung của người phụ nữ. Phần lớn ung thư cổ tử cung (hơn 95%) là do Human Papillomavirus (HPV)18. Cho đến nay, ung thư cổ tử cung là căn bệnh phổ biến nhất liên quan đến virus HPV.
Mặc dù hầu hết các trường hợp nhiễm HPV do các tổn thương tiền ung thư đều có khả năng tự hồi phục, nhưng đối với tất cả phụ nữ, nhiễm HPV có nguy cơ trở thành bệnh mãn tính và các tổn thương tiền ung thư tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm lấn18. Phân loại HPV Dựa trên mối liên hệ của HPV với ung thư cổ tử cung và các tổn thương tiền ung thư, có thể chia HPV thành 2 loại: - Loại HPV nguy cơ thấp (Low-risk HPV hay LR HPV): gây ra các tổn thương lành tính. HPV 6 và 11, hai loại LR HPV được nghiên cứu nhiều nhất, gây ra sùi mào gà lành tính hoặc u bã đậu19 - Loại HPV nguy cơ cao (High-risk HPV hay HR HPV): gồm 12 loại HPV nguy cơ cao, gây bệnh ung thư là: HPV 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58 và 59 (nhóm 1) và 8 loại HPV có thể gây ra bệnh ung thư là: HPV 26, 53, 66, 67, 68, 70, 73 và 82 (nhóm 2A và 2B) được phân loại bởi Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC). Trong số các loại nguy cơ cao, HPV 16 là kiểu gen được phát hiện thường xuyên nhất với 60,5% các trường hợp ung thư cổ tử cung, tiếp theo là HPV 18 (32,3%)19.
Cấu tạo của HPV HPV là một loại virus nhỏ, không có vỏ bao, vật liệu di truyền là chuỗi ADN kép với bộ gen khoảng 8 kb, thuộc họ Papillomaviridae20. Bộ gen của HPV bao gồm ba vùng riêng biệt: Vùng sớm (Early - E) bao gồm 7 gen (E1, E2, E4, E5A, E5B, E6 và E7), vùng muộn (Late - L) bao gồm L1, L2 và vùng điều hòa ngược dòng (Upstream. 4 Regulatory Region – URR)20. Cấu trúc và chức năng của từng gen của HPV được trình bày trong Hình 1.
Cấu trúc và chức năng các gen trên HPV18 Chức năng cụ thể của các gen E được trình bày trong Bảng 1.1 Trong nghiên cứu và phát triển thuốc là các phân tử nhỏ để điều trị ung thư cổ tử cung, các oncoprotein E6, E7 của HPV là đích tác động được nghiên cứu nhiều nhất21. Bên cạnh đó, protein E1 cũng là đích tác động đang được quan tâm nhằm phát triển các thuốc với mục đích ức chế sự sao chép ADN của virus trong tế bào chủ. Đồng thời, với đặc tính bảo tồn cao của E1 giữa các loại HPV, việc phát triển thuốc ức chế trên E1 được kỳ vọng sẽ có tác động hiệu quả trên nhiều loại HPV khác nhau. Do đó, ức chế protein E1 được chọn làm mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Chức năng của các gen E trong cấu trúc của HPV Gen Đặc điểm Số acid Vai trò amin E1 Bảo tồn cao giữa các loại HPV 600-650 Tham gia vào quá trình sao khác nhau và là protein HPV chép ADN của virus12 duy nhất có hoạt tính enzyme10. E2 Tham gia tạo phức hợp với E1 350-500 E2 tương tác với E1 giúp cho có ái lực cao với ADN của tế E1 dễ dàng gắn liền vào điểm bào chủ22 khởi động sao chép, tăng cường sao chép22 E4 E4 nằm ở vị trí trung tâm trong Chưa Vùng bảo tồn LLXLL tại vị trí gen E2, tạo sản phẩm chính giải mã acid amin 12-16 trên protein trong quá trình phiên mã23 E4 đóng vai trò then chốt trong việc sừng hóa tế bào24 E5 Protein nhỏ, liên kết màng và 108 Tăng cường chức năng của E6, rất kỵ nước25 E7 và đã được chứng minh là góp phần vào sự tiến triển của khối u trên cơ thể người26 E6 Chứa hai mô-típ Cys-X-X-Cys 151 Sự kích thích do E6 gây nên sự gắn kẽm điều hòa và là một suy giảm các chức năng sinh trong các protein gây ung thư học của p53; do đó thúc đẩy chính của HPV27 chu kỳ tế bào, cuối cùng dẫn đến tăng sự phát triển của tế bào khối u28 E7 Chứa 2 vùng gen bảo tồn29 98 Gây ung thư, hỗ trợ E6 tác động lên sự bất tử tế bào chủ29. Protein E1 của virus HPV Cấu tạo và chức năng Trong vùng gen sớm từ E1 đến E7 của HPV có chứa khung đọc mở (Open reading frame – ORF) cần thiết cho sự nhân lên của virus và điều hòa phiên mã30. E1 là protein có ORF lớn nhất và được bảo tồn cao nhất trong số các gen thuộc họ Papillomavirus (PV)10.
Điều này phản ánh vai trò quan trọng của gen E1 trong quá trình sao chép bộ gen của virus. Nhìn chung, protein có thể được chia thành ba phân đoạn chức năng chính được thể hiện trong Hình 1. Trong đó gồm: vùng điều hòa ở đầu N cần thiết cho sự sao chép in vivo31, miền liên kết trung tâm hay còn được gọi là miền liên kết ADN (DBD) nhận biết các vị trí cụ thể của trình tự khởi đầu sao chép (ori)11 và vùng enzym ở đầu C có hoạt tính như enzyme tháo xoắn ADN helicase/ATPase32. Vùng DBD và vùng helicase ở đầu C đóng vai trò sao chép ADN phụ thuộc ori trong thí nghiệm in vitro và là vùng quan trọng thúc đẩy quá trình sao chép của virus33.
Cấu trúc protein E1 của HPV34 Cơ chế gây bệnh Sự sao chép ADN của virus: Đối với HR HPV nhóm 1, protein E1 có thể trực tiếp khởi động sự sao chép ADN mà không cần có sự hỗ trợ định hướng của protein E235. Ngược lại, đối với các loại PV khác, sự nhận dạng ori in vivo của E1 cần có E2 - loại protein virus duy nhất cần thiết để bắt đầu sao chép ADN36. Sự tương tác của E1 với các protein tham gia điều hòa/sao chép ADN của tế bào chủ: các loại virus gây khối u có vật liệu di truyền là ADN, bao gồm cả PV chỉ mã hóa một số protein và do đó phải phụ thuộc nhiều vào vật chủ nhằm đảm bảo các chức năng khác cần thiết để hoàn thành vòng đời của chúng35. Protein E1 không phải là.
7 ngoại lệ và đã được báo cáo là tương tác với một số protein của tế bào được thể hiện trong Bảng 1. Các tương tác của E1 với một số protein của tế bào chủ. Tên protein Chức năng trong tế Chức năng của tương tác TLTK bào chủ của protein protein E1 Phức hợp ADN Sao chép ADN Đóng vai trò trực tiếp trong 37 polymerase α- quá trình tổng hợp ADN primase của virus Protein sao chép Protein liên kết ADN Đóng vai trò trực tiếp trong 38 A (RPA) sợi đơn quá trình tổng hợp ADN của virus Topoisomerase I Tháo xoắn ADN Tăng hoạt động của 39 (Topo I) Topoisomerase I và liên kết E1 với ori Histone H1 Thành phần của E1 có thể thay thế histone 40 nhiễm sắc thể H1 khỏi ADN, điều này có thể làm giảm tác dụng kìm hãm của H1 đối với sự sao chép ADN của virus Caspase-3/-7 Trung gian của quá Khuếch đại bộ gen virus 41 trình apoptosis trong các tế bào biệt hóa Về độc tính tế bào và tác động kháng HPV được thử nghiệm trên tế bào HeLa42. Tế bào HeLa (ATCC, Rockville, MD) được nuôi trong DMEM (Life Technologies, Grand Island, NY) bổ sung 10% huyết thanh thai bò bị bất hoạt bởi nhiệt (Life Technologies) và 50 U/ml penicillin, 50 μg/ml streptomycin (Life Technologies).
8 tế bào được ly giải để phát hiện hoạt động của luciferase bằng cách sử dụng thử nghiệm Pierce Firefly Luciferase Glow với Pierce Firefly Signal Enhancer (Thermo Scientific) như mô tả của nhà sản xuất42. Sự phát quang được đọc trên đầu đọc vi tấm Gemini EM (phát xạ 542 nm) bằng phần mềm Softmax Pro 3. Độc tính tế bào được ước tính bằng cách sử dụng xét nghiệm XTT43, bắt chước xét nghiệm kháng virus nhưng không có vius. Giá trị CC50 và IC50 được tính toán bằng cách sử dụng phân tích liều - đáp ứng - ức chế trên phần mềm GraphPad Prism v5.
Từ đó, các chỉ số điều trị (TI = CC50/IC50) được tính toán43. Tiềm năng phát triển thuốc ức chế virus HPV từ dược liệu 1. Nghiên cứu thuốc ức chế trên virus HPV Trong thời gian gần đây, dược liệu và các chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học đã trở thành một trong những trọng tâm chính được quan tâm nhằm tìm kiếm các loại thuốc hiệu quả với giá cả phải chăng để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu. Các dược liệu này được kỳ vọng có thể cản trở sự nhân lên của virus mà không ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của vật chủ hoặc hạn chế các tác dụng phụ 44.
Các nghiên cứu đã báo cáo tác dụng ức chế của chất chiết xuất từ cây thuốc đối với sự nhân lên của một số loại virus cụ thể như virus herpes, virus sốt xuất huyết, virus viêm gan C, virus Sars-Cov-2, …45. Đối với virus HPV, nhiều dược liệu đã được báo cáo có tiềm năng ức chế các oncoprotein của virus này. Các hợp chất tự nhiên như curcumin, withaferin A, apigetrin, theaflavin, hesperidin, epigallocatechin gallat đã được chứng minh có khả năng ức chế protein E6, E7 của HPV14,20 (Hình 1. 9 Curcumin Withaferin A Epigallocatechin gallat Hesperidin Apigetrin Theaflavin Silymarin Hình 1.
Các hợp chất dược liệu ức chế HPV 1. Nghiên cứu thuốc ức chế trên E1 HPV 18 Bên cạnh việc tìm kiếm các hợp chất ức chế oncoprotein E6, E7 của HPV, ức chế enzym của protein E1 cũng được xem là mục tiêu hấp dẫn để khám phá thuốc kháng HPV, đặc biệt để điều trị các tổn thương liên quan đến HPV. Tuy nhiên, hai loại chất ức chế E1 đã biết là: biphenylsulfonacetic acid và benzodiazepin được báo cáo là có hoạt động tốt trong các thử nghiệm in vitro lại không có hiệu quả trong các thí nghiệm nuôi cấy tế bào10 (Hình 1. Trong nghiên cứu gần đây, các hợp chất stigmasterol từ Berberis aristata và stereoemodin từ Rheum emodi đã được báo cáo có khả năng ức chế tốt protein E1 của HPV trong các thí nghiệm in silico17.
Tính tới thời điểm hiện tại thực hiện đề tài, các công bố nghiên cứu trên hợp chất tự nhiên có tác dụng ức chế. Điều này cho thấy việc tìm kiếm các hợp chất tự nhiên trên E1 của HPV là một hướng mới trong việc thiết kế thuốc kháng virus này. Biphenylsulfonacetic acid Benzodiazepin Hình 1. Các hợp chất dược liệu ức chế trên protein E1 HPV 1.
Sàng lọc in silico Trong những nằm gần đây, nghiên cứu in silico đã được áp dụng rộng rãi nhằm giảm bớt thời gian cũng như chi phí và định hướng cho việc phát triển thuốc.