CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN PHÁI SINH CỦA CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Công ty cổ phần và cổ đông công ty cổ phần Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh tế ra đời từ những năm 1600 tại Anh và đã dần trở nên phổ biến tại các quốc gia trên thế giới.2 Dưới góc độ pháp lý, CTCP được xem như một thực thể nhân tạo, vô hình, và chỉ tồn tại trong sự suy xét của pháp luật.3 Cụ thể, CTCP được hiểu là loại hình công ty có vốn được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần, người nắm giữ cổ phần gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm hữu hạn (TNHH) bằng phần vốn cổ phần mà mình nắm giữ. Ở các hệ thống pháp luật khác nhau, CTCP có nhiều tên gọi khác nhau và số lượng thành viên, số vốn tối thiểu, cách thức góp vốn, cơ chế quản lý và điều hành công ty cũng được quy định khác nhau. Tuy nhiên, xét về bản chất, CTCP thường có đặc điểm chung bao gồm: (i) CTCP là thực thể có tư cách pháp nhân; (ii) vốn của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần; (iii) cổ đông là những người chủ sở hữu cổ phần của CTCP và chỉ chịu TNHH tương ứng với giá trị cổ phần của mình; (iv) việc chấm dứt đầu tư hay chấm dứt tồn tại của cổ đông cũng không ảnh hưởng đến sự tồn tại của CTCP; (v) CTCP là loại hình công ty dễ dàng mở rộng quy mô bằng việc phát hành thêm cổ phần; (vi) CTCP được quản lý một cách tập trung bằng cách cổ đông sẽ ủy quyền cho một nhóm người nhỏ hơn để quản lý và điều hành công ty.
Dưới góc độ pháp lý, cổ đông là người sở hữu hoặc nắm giữ một hoặc nhiều cổ phần trong CTCP và được gọi là chủ sở hữu cổ phần.4 Để trở thành cổ đông, việc đầu tiên cần phải làm là bỏ vốn đầu tư vào CTCP. Đổi lấy việc cung cấp vốn đầu tư này, cổ đông sẽ được hưởng lợi tức từ hoạt động kinh doanh của công ty dựa trên tỷ lệ cổ phần 2 Bob Tricker (2020), Kiểm soát quản trị, NXB Tổng hợp, TP HCM, tr.636, truy cập ngày 10/01/2022, từ https://www.gov/item/usrep017518/ 4 Xem giải nghĩa từ “Shareholder”, Black Law Dictionary, 9th ed.1500 12 của mình và được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Thông thường, cổ đông sẽ được thực hiện các quyền: quyền nhận thông báo, quyền tham dự và bỏ phiếu trong Đại hội cổ đông (ĐHĐCĐ), quyền điều tra việc đăng ký cổ đông, quyền được biết các thông tin mà pháp luật cho phép như Bob Tricker đã chỉ ra.5 Tuy nhiên, bên cạnh những quyền này, cổ đông còn có những quyền cơ bản như quyền về kinh tế (hưởng cổ tức) và quyền khởi kiện. Quyền kinh tế liên quan đến việc cổ đông đầu tư vào các công ty để nhận được lợi nhuận từ khoản đầu tư của họ thông qua việc nhận cổ tức hoặc có thể bán cổ phiếu theo ý muốn.
Quyền khởi kiện liên quan đến việc khởi kiện những người quản lý, điều hành nếu họ có những hành vi sai trái không đúng với nghĩa vụ được ủy thác bằng một vụ kiện trực tiếp hoặc phái sinh. Người quản lý công ty cổ phần và nghĩa vụ người quản lý công ty cổ phần 1. Khái niệm người quản lý công ty cổ phần Trước tiên, quản lý CTCP được hiểu là việc tổ chức các cơ quan quyền lực trong CTCP và mối liên hệ giữa các cơ quan đó.7 Tuy nhiên, tùy theo mỗi quốc gia mà việc tổ chức các cơ quan quyền lực của CTCP có nhiều sự khác biệt. Các nước theo hệ thống thông luật (common law) thường tổ chức mô hình quản lý CTCP một hội đồng (one-tier system) với Hội đồng quản trị (HĐQT) vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa thực hiện chức năng giám sát.
Trong khi đó, mô hình hai hội đồng (two-tier system) xuất phát từ Đức lại tổ chức song song hai hội đồng gồm Hội đồng giám sát và HĐQT.8 Tuy việc tổ chức mô hình quản trị, tức các cơ quan quyền lực trong CTCP của các quốc gia là khác nhau nhưng hoạt động của các cơ quan này vẫn là hoạt động quản lý CTCP. Bên cạnh hoạt động quản lý CTCP thì hoạt động điều hành CTCP đóng vai 5 Bob Tricker (2020), sđd, tr.129, 130 6 Melanie Lockert (2021), “What is a shareholder? Understanding the rights that come with owning stock of a company”, Business Insider, truy cập ngày 14/01/2022, từ https://www.com/shareholder 7 Hoàng Công Minh (2018), Tổ chức quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật - Đại học Huế 8 Bob Tricker (2020), sđd, tr.70-79 13 trò quan trọng trong việc giúp công ty vận hành và phát triển. Hoạt động điều hành CTCP chính là việc tổ chức vận hành hoạt động của các cơ quan công ty trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh hàng hàng. Dựa trên khái niệm về hoạt động quản lý CTCP và hoạt động điều hành CTCP, một cách đơn giản, có thể hiểu rằng những người thực hiện hoạt động quản lý CTCP chính là người quản lý CTCP, còn những người thực hiện hoạt động điều hành CTCP chính là người điều hành CTCP.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia khác nhau lại có cách gọi và sự nhìn nhận khác nhau về những chức danh này. Trong pháp luật của các nước theo hệ thống thông luật (common law), cách gọi “director” được dùng để chỉ cả người quản lý (thành viên HĐQT) và người điều hành (giám đốc). Ngoài ra, còn có cách gọi “officer” dành riêng cho những người điều hành.9 Trong khi đó, pháp luật Việt Nam dùng từ “người quản lý doanh nghiệp” để chỉ những người nắm giữ chức danh quản lý (Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị) và cả những người nắm giữ chức danh điều hành (Giám đốc hoặc Tổng giám đốc).10 Do đó, để thống nhất tên gọi, trong phạm vi khóa luận này, tác giả xin được phép dùng từ “người quản lý CTCP” để chỉ những người quản lý và điều hành CTCP. Nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần 1.
Cơ sở lý thuyết của nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần Về bản chất, giữa người quản lý CTCP và CTCP tồn tại quan hệ ủy thác, có nghĩa là người quản lý cần hành động vì lợi ích của công ty thay vì lợi ích của mình. Để thực 9 Xem Bùi Xuân Hải (2005), “Người quản lý công ty theo luật doanh nghiệp 1999 – Nhìn từ góc độ luật so sánh”, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2005. Theo pháp luật của các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ, hội đồng giám đốc (“board of directors”) hay các giám đốc (“directors”) là những người quản lý và chỉ đạo công việc kinh doanh của công ty. Do đó, các giám đốc (“directors”) là người quản lý công ty, họ thực hiện việc quản lý và giám sát hoạt động công ty.
Ngoài ra, pháp luật của các quốc gia này thường đưa ra định nghĩa về giám đốc (“director”) và phân biệt giám đốc (“director”) với người điều hành (“officers”). Theo đó, giám đốc (“director”) là thuật ngữ thường dùng để chỉ một giám đốc (director), còn người điều hành (“officers”) là người tham gia vào công việc điều hành hoạt động hàng ngày của công ty. Xem thêm David A. (2004), “Corporate Anatomy Lessons”, The Yale Law Journal, Vol.
1519-1577 10 Xem khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 14 hiện vai trò của mình, người quản lý công ty được pháp luật trao quyền thực hiện hoạt động quản lý. Tuy nhiên, không phải tất cả người quản lý đều hành động vì lợi ích của CTCP mà có thể thực hiện những hành vi sai trái xâm hại đến quyền và lợi ích của CTCP và thậm chí là bên thứ ba. Như Adam Smith đã chỉ ra rằng: “Không thể kỳ vọng rằng các giám đốc - những người quản lý tiền của người khác - sẽ trông coi số tiền đó một cách thận trọng giống như việc quản lý số tiền của chính bản thân họ”.11 Vấn đề này được Bob Tricker gọi là vấn đề đại diện (agency problem).12 Hai lý thuyết kinh điển là lý thuyết đại diện (agency theory) và lý thuyết người quản gia (stewardship) xuất hiện và có quan điểm khác nhau về vấn đề đại diện này. Lý thuyết đại diện quan niệm quan hệ kiểm soát quản trị là một hợp đồng giữa cổ đông (người chủ sở hữu) và người quản lý (người đại diện).
Do cả hai bên trong mối quan hệ hợp đồng này là những người luôn muốn tối đa hoá lợi ích nên người ta có lý do để tin rằng người quản lý sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ.13 Điều này dẫn đến việc người quản lý luôn cố gắng tối đa hóa lợi nhuận cá nhân của mình mà có thể đưa ra các quyết định có lợi cho bản thân họ và lại gây tổn hại cho cổ đông. Tuy nhiên, lý thuyết này lại vấp phải sự chỉ trích cho rằng lý thuyết này đã được xây dựng trên một quan điểm trừu tượng không đáng tin cậy rằng kiểm soát quản trị liên quan đến một hợp đồng giữa hai bên và dựa trên một giả định luân lý mang tính phỏng đoán đáng ngờ là con người luôn chỉ tối đa hóa lợi ích của họ.14 Trong khi đó, lý thuyết người quản gia lại cho rằng người quản lý không luôn luôn hành động theo hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ mà có thể và thực sự hành 11 Adam Smith (1776), The Wealth of Nations, CreateSpace Publisher, US 12 Bob Tricker (2020), sđd, tr.88 13 Jensen Michael, William Meckling (1976), “Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Cost and Ownership Structure”, Journal of Financial Economics, Vol.308, truy cập ngày 14/01/2022, từ https://www.com/science/article/pii/0304405X7690026X 14 Bob Tricker (2020), sđd, tr.93 15 động một cách có trách nhiệm với sự độc lập và chính trực.15 Theo lý thuyết này, người quản lý có trách nhiệm hành động như một người quản gia của công ty và vì lợi ích của cổ đông - những người chủ sở hữu cổ phần. Tuy nhiên, lý thuyết người quản gia cũng gặp chỉ trích vì đã quá lý tưởng hóa trách nhiệm của người quản lý dẫn đến nhiều rủi ro trong việc xây dựng mô hình quản lý công ty. Có thể thấy rằng, khi so sánh hai lý thuyết trên thì lý thuyết đại diện chiếm ưu thế hơn và vẫn được tiếp tục ủng hộ và phát triển bởi nhiều nhà kinh tế học trong việc xây dựng mô hình quản lý công ty.
Việc xung đột lợi ích giữa người quản lý công ty và công ty vẫn có thể xảy ra nên người quản lý phải có những ứng xử sao cho lợi ích tốt nhất của công ty được bảo đảm.