chương 1, đề tài được trình bày khái quát cho mục đích tổng quan, là xem xét ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến chỉ số TTCK và đưa ra mô hình dự báo xu hướng của chỉ số liên quan được sử dụng; trong đó, tác giả đề xuất sử dụng VN index là chỉ số được chọn mẫu để xem xét biến động trên TTCK Việt Nam trong các mô hình định lượng. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Từ các vấn đề đã đặt ra, ở Chương 2, bài viết sẽ trình bày các khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đó đã được thực hiện có liên quan đến chủ đề này; nhằm giúp người đọc thuận tiện tiếp cận khái niệm và tình hình nghiên cứu lý luận, thực nghiệm trong bối cảnh thực tế. Các khái niệm và cơ sở lý thuyết 2. Thị trường chứng khoán TTCK, một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, có chức năng hoạt động nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, mở rộng các dự án đầu tư và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế nói chung.
Đây là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Căn cứ vào các tiêu chí mà TTCK có thể có các cấu trúc phân loại bao gồm: Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp (phân loại theo sự luân chuyển các nguồn vốn). Trong đó, TTCK sơ cấplà nơi các chứng khoán được mua bán lần đầu tiên trên thị trường. TTCK sơ cấp chỉ diễn ra các giao dịch giữa công ty phát hành và các nhà đầu tư mà không có sự trao đổi mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư với nhau.
Số tiền mua được từ việc bán chứng khoán nhằm mục đích công ty phát hành đưa vào sản xuất kinh doanh. Về TTCK thứ cấp, đây là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung (phân loại theo phương thức hoạt động của thị trường). Cụ thể, thị trường giao dịch tập trung là một địa điểm xác định mà tại đó chứng khoán được tiến hành trao đổi, mua bán.
Thị trường phi tập trung là thị trường mua bán chứng khoán dựa trên sự thoả thuận giữa các nhà đầu tư, thị trường này không có địa điểm giao dịch chính thức như thị trường tập trung. 8 Thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh,. Với thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu. Thị trường trái phiếu là nơi giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị, trái phiếu Chính phủ.Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua bán các chứng từ tài chính khác như chứng quyền, hợp đồng quyền chọn,.
Về mặt đo lường của TTCK, theo các tác giả Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến (2009): “Chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổ phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thay đổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường”. Các chỉ số giá chứng khoán có thể do sở giao dịch chứng khoán, các hãng thông tin hoặc một thể chế tài chính nào đó định ra. Chỉ số giá này được được các nhà kinh tế học quan tâm vì tính liên quan đã được phản ánh trong thực nghiệm với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một số quốc gia, cũng có thể được các nhà đầu tư sử dụng để mô tả thị trường chứng khoán và so sánh giữa các lĩnh vực ngành nghề hay khu vực khác nhau của thị trường tùy theo các cách phân loại. Chỉ số chứng khoán quốc gia đại diện cho hoạt động của TTCK ở một quốc gia cụ thể.
Các chỉ số quốc gia được giao dịch và theo dõi thường xuyên như S&P 500 của Mỹ, Nikkei 225 của Nhật Bản và FTSE 100 của Anh được tạo thành từ các cổ phiếu của các công ty lớn nhất niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc gia. Ngoài ra, chỉ số chứng khoán cũng có thể bao gồm các chỉ số thể hiện nhóm cổ phiếu các công ty trong một khu vực, như: DJ Euro Stoxx 50 bao gồm cổ phiếu của 50 công ty blue-chip chỉ có trụ sở tại Khu vực đồng Euro; Chỉ số MSCI Emerging Markets Index được tạo thành từ các cổ phiếu của các nền kinh tế mới nổi như Brazil, Mexico và Nam Phi. Hoặc, có những chỉ số liên quan đến một số ngành công nghiệp nhất định, chẳng hạn, NASDAQ 100 chủ yếu bao gồm các công ty trong ngành công nghệ và không bao gồm các công ty tài chính. 9 Trong phạm vi tại Việt Nam, bảng giá niêm yết giao dịch của các công ty chứng khoán hiện nay chủ yếu chỉ có các chỉ số VN index, VN30, HNX index, HNX30, UPCoM index.
Các chỉ số thị trường chứng khoán không giới hạn các chỉ số HNX của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, VN index của Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, hay chỉ số tại sàn UPCOM theo quy định, mà trong thực tế đã được xây dựng thêm nhiều nhóm chỉ số theo những tiêu chí nhất định, như VN 30 là một ví dụ. Để chọn được mẫu đại diện có tính bao quát và có khối lượng chứng khoán được niêm yết tương đối lớn, chỉ số VN index được chọn sử dụng làm chỉ số đại diện cho mục tiêu nghiên cứu trong bài viết này.Chỉ số VN index ra đời năm 2000 và nhà quản lý đã chọn tính VN index theo phương pháp tính Passcher, tức tính bình quân gia quyền theo giá với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết tại thời kỳ báo cáo: VN index = (2.1) Cụ thể: P1 : Giá hiện tại chứng khoán (i); Q1 : Khối lượng chứng khoán (i) lưu hành; P0 : Giá giai đoạn trước đó của chứng khoán (i); Q0 : Khối lượng chứng khoán (i) vào giai đoạn trước đó. Như vậy, VN index được hình thành từ hai loại biến số, thị giá cổ phiếu và lượng cổ phiếu niêm yết của từng thời kỳ. Nhiều TTCK trên thế giới cũng chọn phương pháp tính Passcher để tính chỉ số giá chứng khoán.
Chẳng hạn, chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P 500 (Mỹ), FTSE (Anh), CAC (Pháp). Tại Việt Nam, VN index hiện đang là chỉ số được sử dụng trong các đánh giá về thị trường từ cấp doanh nghiệp đến cấp ngành, Chính phủ. Trong thực tế, trong vài năm gần đây, Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội đã nghiên cứu cải tiến cách tính chỉ số hiện hữu, đồng thời xây dựng những bộ 10 chỉ số mới, nhưng mức độ sử dụng phổ biến và được cập nhật trên thị trường vẫn chưa thay thế được vai trò hiện hữu của VN index. Xét sự biến động trên chỉ số giá này, với “biến động” là một thước đo cho thấy khuynh hướng của một thị trường hoặc một chứng khoán sẽ tăng giá hay rớt giá trong một khoảng thời gian và có thể quan sát bằng cách nhìn vào những thay đổi trong quá khứ của giá chứng khoán (Krainer, 2002), sự thay đổi trong chỉ số giá chứng khoán đã nêu có thể được sử dụng như thước đo sự biến động cơ bản trên TTCK.
Mối liên hệ từ biến số vĩ mô đếnthị trường chứng khoán Trên các lý thuyết đã được xây dựng và thực tế lý giải các trường hợp khác nhau khi áp dụng lý thuyết vào các hoàn cảnh kinh tế cụ thể, ta có nghiên cứu của Fili (2009), trong đó khẳng định qua hoạt động đầu tư trên TTCK vào nhóm công ty sản xuất tương ứng, người đầu tư hưởng lợi từ kì vọng lạc quan về hoạt động ngành, sự tăng trưởng giá cổ phiếu của nhóm ngành và từ lợi tức đạt được có thể tăng thêm, với giá trị theo dõi sản lượng công nghiệp cho biết kết quả hoạt động đầu ra của một nhóm ngành công nghiệp cụ thể nào đó được sản xuất trong phạm vi thời gian đo lường song hành với mức tăng trưởng TTCK trong nền kinh tế có thời kì phát triển tích cực. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng sức ảnh hưởng của giá trị trên lên giá chứng khoán cũng đã ghi nhận kết quả ngược chiều bởi Ahmet (2009). Các nghiên cứu khác của Fama và Schwert (1977), Leeb và Conrad (1996) trên thị trường Mỹ từ năm 1930 đến năm 1980 và Nguyễn Văn Ngọc (2006) của Việt Nam khẳng định một yếu tố khác tồn tại trong nền kinh tế là mức lạm phát có ảnh hưởng trong hành vi tiêu dùng, đầu tư của dân cư trong hoạt động kinh tế. Với các nguyên nhân được biết đến có thể kể đến (1) cầu kéo (demand-pull inflation), là sự gia tăng mức giá chung do tổng cầu vượt quá khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế.
Tại mức sản lượng toàn dụng (bằng tổng sản phẩm trong nước tiềm năng) tình trạng dư cầu đẩy giá lên cao trong khi khối lượng hiện vật không thay đổi. Theo lý thuyết tiền tệ, tình trạng dư cầu có nguyên nhân của sự gia tăng cung tiền lên trên mức tăng của tổng sản phẩm quốc dân. Hoặc (2) chi phí đẩy (cost-push inflation), là sự gia tăng liên tục của mức giá chung do có sự gia tăng tự 11 sinh trong các loại chi phí sản xuất và cung ứng hàng hóa. Điều này có thể xảy ra khi công nhân đòi tiền lương cao hơn, giới chủ tìm cách tăng lợi nhuận, giá nguyên liệu nhập khẩu tăng, thời tiết bất thường làm cho sản lượng giảm (chi phí cho mỗi đơn vị sản lượng tăng) hay việc chính phủ tăng thuế và vận dụng những chính sách khác làm cho chi phí sản xuất tăng lên,.
Những hiện tượng này làm cho đường tổng cung (AS) trong mô hình AD - AS dịch chuyển lên phía trên bên trái, dẫn tới giá cả cao hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng những hiện tượng như vậy chỉ gây ra lạm phát khi đồng thời có sự gia tăng của cung ứng tiền tệ, tức ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm cho đường tổng cầu dịch chuyển lên phía trên bên phải. Họ lập luận rằng nếu không có chính sách tiền tệ mở rộng, hiện tượng chi phí đẩy sẽ dẫn tới sự giảm phát.