CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ BÊN VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 1. Khái quát hoạt động cho vay tiêu dùng của công ty tài chính 1. Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng Theo Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành, cho vay là một trong những hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng1. Thuật ngữ “cho vay” ở đây dùng để chỉ quan hệ cấp tín dụng bằng tiền giữa tổ chức tín dụng (với tư cách là bên cho vay) với một bên là các tổ chức, cá nhân (với tư cách là bên đi vay) nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn cho các chủ thể này để đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng 2.
Định nghĩa này đã thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng nên nhóm tác giả sẽ sử dụng xuyên suốt bài nghiên cứu. Hiện nay, chủ nghĩa tiêu dùng đang chiếm lĩnh trên toàn thế giới, đặc biệt là trong thời đại công nghệ cực kỳ phát triển trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên toàn thế giới. Các sàn giao dịch điện tử cực kỳ phát triển, tự do hóa thương mại toàn thế giới thúc đẩy thời gian mua hàng và nhận hàng ngày một nhanh hơn. Ngày càng nhiều người mua sắm hàng hóa để phục vụ các nhu cầu của bản thân.
Nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, các tổ chức tín dụng đã tạo ra dịch vụ CVTD để phục vụ nhu cầu mua sắm của các khách hàng. Đối với thị trường CVTD tại Việt Nam, theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến cuối năm 2012, tổng dư nợ CVTD khoảng 230.000 tỷ đồng, chiếm 8% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế; đến cuối năm 2018, dư nợ tín dụng tiêu dùng đạt khoảng 1,4 triệu tỷ đồng (gấp 6 lần năm 2012). Trong tổng dư nợ tín dụng tiêu dùng tính đến cuối năm 2018, dư nợ của các CTTC tiêu dùng chiếm khoảng 8% (tương đương 110.000 tỷ đồng), còn lại là tín dụng tiêu dùng từ các NHTM (chiếm 88%) và các tổ chức tài chính khác (khoảng 4%)3. Như vậy, CVTD ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong dư nợ tín dụng của nền kinh tế.
Điều này 1 Khoản 14 Điều 4 Luật Các TCTD. 2 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2015), “Giáo trình Luật Ngân hàng”, Nxb Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, tr 308. 3 Nguyễn Thị Phương Thảo, “Cho vay tiêu dùng tại Việt Nam: Thị trường tiềm năng và đầy cạnh tranh”, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/cho-vay-tieu-dung-tai-viet-nam-thi-truong-tiem-nang-va-day-canh-tranh- 73262.htm, truy cập ngày 16/03/2023. 13 đòi hỏi cần có sự điều chỉnh đối với hoạt động này đến từ Nhà nước để quản lý chặt chẽ cũng như đảm bảo an toàn cho ngành ngân hàng nước ta.
Khái niệm CVTD trước đây chưa từng được định nghĩa một cách cụ thể trong bất cứ một văn bản pháp luật nào. Cho đến ngày 15/03/2017, Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính do NHNN Việt Nam ban hành (Thông tư 43/2016/TT-NHNN) có hiệu lực đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về khái niệm “cho vay tiêu dùng”. Thông tư 43/2016/TT-NHNN, CVTD được định một cách cụ thể tại khoản 1 Điều 3 như sau: “Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100. Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật”.
Thông tư 43/2016/TT-NHNN đã đề cập hai yếu tố nhận biết CVTD: bên vay là cá nhân, mục đích vay là mục đích tiêu dùng cá nhân. Mục đích tiêu dùng cá nhân có vai trò quan trọng giúp phân biệt giữa CVTD và các khoản vay khác. Theo Từ điển Tiếng Việt, “tiêu dùng” là việc sử dụng của cải vật chất để thoả mãn các nhu cầu của đời sống sinh hoạt hằng ngày4. Xuất phát từ tính chất thỏa mãn các nhu cầu đời sống sinh hoạt hằng ngày nên khoản vay tiêu dùng mang tính chất tiêu sản.
Vì vậy, khoản tiền bên vay mua các hàng hóa, dịch vụ thì giá trị của các hàng hóa, dịch vụ này sẽ khấu hao theo thời gian chứ không tạo ra lợi nhuận như khoản vay phục vụ mục đích đầu tư kinh doanh. Theo đó, bên vay phải sử dụng khoản vay cho mục đích tiêu dùng mà theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN chỉ giới hạn trong “mua phương tiện đi lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình; chi phí học tập, khám, chữa bệnh, du lịch, văn hóa, thể dục, thể thao; chi phí sửa chữa nhà ở”. Khoản vay có mục đích nằm ngoài quy định trên sẽ không được coi là CVTD. Đồng thời, mục đích tiêu dùng thì chỉ có thể là cá nhân mới có mục đích tiêu dùng, các tổ chức, pháp nhân không thể có mục đích tiêu dùng.
Điều này cũng dẫn đến việc bên vay trong CVTD chỉ có thể là cá nhân.vn/dict/vn_vn/Ti%C3%AAu_d%C3%B9ng, truy cập ngày 02/5/2023. 14 Từ đây, nhóm tác giả định nghĩa khái niệm cho vay tiêu dùng như sau: “Cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng của công ty tài chính, theo đó các công ty tài chính cung cấp một khoản vay cho cá nhân với mục đích tiêu dùng, phục vụ nhu cầu đời sống của cá nhân, gia đình và bên vay có nghĩa vụ hoàn trả cả vốn và lãi cho công ty tài chính trong thời hạn cam kết. Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng Hoạt động cho vay tiêu dùng cũng xuất phát từ bản chất của quan hệ cho vay thông thường trong lĩnh vực ngân hàng, tức là bên cho vay là một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ sẽ cho bên vay vay theo các điều kiện đã thỏa thuận trước như thời gian cho vay, thời gian hoàn trả, lãi suất,. và bên vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng thỏa thuận, hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Tuy nhiên, với đặc trưng của hoạt động cho vay tiêu dùng của công ty tài chính, hoạt động này có nhiều điểm khác biệt so với các quan hệ cho vay khác. Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ cho vay tiêu dùng của CTTC là cá nhân và CTTC được cấp phép Với tư cách là bên cho vay trong quan hệ CVTD, hoạt động của các CTTC phải được NHNN cấp phép và tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Luật Các TCTD và các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực ngân hàng. Việc cho vay tiêu dùng của CTTC được quy định riêng tại Nghị định số 39/2014/NĐ-CP. Theo đó, Công ty tài chính là chủ thể bên cho vay trong quan hệ cho vay tiêu dùng chỉ bao gồm Công ty tài chính tổng hợp và Công ty tài chính tín dụng tiêu dùng.
Để trở thành bên cho vay trong quan hệ cho vay tiêu dùng thì CTTC phải đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định như: Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp; Đã đăng ký Điều lệ tại Ngân hàng Nhà nước; Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn điều lệ, vốn được cấp, có kho tiền đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, có trụ sở đủ điều kiện bảo đảm an toàn tài sản và phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng; Có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, điều hành, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với loại hình hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 15 Với tư cách là bên vay trong quan hệ CVTD của CTTC, bên vay chỉ là cá nhân. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định: “Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân”. Về đặc điểm chủ thể của bên vay trong quan hệ này, sẽ được trình bày chi tiết ở mục 1.
Thứ hai, hình thức thể hiện hợp đồng cho vay tiêu dùng phải được lập thành văn bản Hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng 5. Đối với các giao dịch dân sự thông thường, các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức để xác lập 6. Tuy nhiên, tất cả các hợp đồng tín dụng đều phải được lập thành văn bản, bao gồm cả hoạt động cho vay tiêu dùng7. Hình thức hợp đồng cho vay phải lập thành văn bản được ghi nhận khá cụ thể không chỉ riêng trong luật Việt Nam, mà còn thấy cả trong thực tiễn giao kết hợp đồng vay ở các nước trên thế giới8.
Sở dĩ có sự hạn chế này là do tính chất đặc thù của ngành ngân hàng. Mặc dù xuất phát điểm là sự tín nhiệm của tổ chức tín dụng đối với bên vay, nhưng không thiếu những trường hợp bên vay “xù” hoặc “trốn” nợ. So với các hình thức xác lập bằng miệng hoặc bằng hành động trong nhiều trường hợp sẽ rất khó để chứng minh tồn tại hợp đồng vay thì ngược lại, việc xác lập hợp đồng vay bằng văn bản sẽ luôn là một chứng cứ hữu hiệu trong mọi trường hợp. Đồng thời, trong hợp đồng còn quy định quyền và nghĩa vụ của các bên một cách rất phức tạp.
Do đó chỉ có cách xác lập hợp đồng bằng văn bản mới có thể thực hiện được việc này. Hiện nay, theo điểm a khoản 5 Điều 14 Nghị định 88/2019/ND-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ bị xử phạt từ 40.000 đồng đối với hành vi cấp tín dụng mà không có hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản. Đối với hoạt động CVTD của CTTC thì khách hàng là những cá nhân có nhu cầu cấp thiết về tài chính và cần tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện. Mặc dù hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhưng bên vay trong hoạt động CVTD lại không quá 5 Lê Minh Hùng (2015), Hình thức của hợp đồng, Nxb Hồng Đức, tr.
6 Khoản 1 Điều 119 BLDS 2015. 7 Khoản 1 Điều 23 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.