MỞ ĐẦU Dinh dƣỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với bệnh nhân nằm viện 1-6. Những bệnh nhân phải trải qua cuộc phẫu thuật thì việc cung cấp dinh dƣỡng đầy đủ là rất cần thiết, một cuộc phẫu thuật dù lớn hay nhỏ đều gây ra một kích ứng về chuyển hóa khi đó cơ thể sẽ đáp ứng lại bằng một số biểu hiện nhƣ tăng năng lƣợng chuyển hóa, tăng phân hủy đạm… Những phản ứng này tiêu thụ năng lƣợng của cơ thể, khi không cung cấp đầy đủ năng lƣợng, cơ thể sẽ suy dinh dƣỡng, giảm các yếu tố hóa học có lợi đƣa đến ngƣời bệnh chậm lành vết thƣơng, tăng nguy cơ nhiễm trùng, kéo dài thời gian nằm viện3,7,8. Ngoài ra cung cấp dinh dƣỡng không đầy đủ có thể làm cho bệnh nhân rối loạn nội tiết tố, suy hô hấp, suy kiệt có thể tử vong9-11. Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Năng (2008) „„ Yếu tố nguy cơ dinh dƣỡng của biến chứng nhiễm trùng sau mổ trên bệnh nhân phẫu thuật vùng bụng‟‟ cho thấy 55,7 % bệnh nhân suy dinh dƣỡng trong thời gian nằm viện và tỉ lệ xảy ra biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật bụng ở nhóm bệnh nhân suy dinh dƣỡng cao hơn nhóm bệnh nhân không có suy dinh dƣỡng12.
Những bệnh nhân phẫu thuật đƣờng tiêu hóa, ngƣời bệnh rất dễ bị mất nƣớc và điện giải do trong quá trình phẫu thuật, do dẫn lƣu, do ống thông mũi- dạ dày và ngƣời bệnh nhịn ăn uống hoàn toàn trƣớc và sau mổ do tình trạng bệnh lý13. Thời gian ruột phục hồi nhu động ruột trở lại từ 6h- 8h sau phẫu thuật, do đó đối với những bệnh nhân hậu phẫu nên nuôi ăn qua đƣờng tiêu hóa càng sớm càng tốt kể cả những phẫu thuật lớn vùng bụng14. Yếu tố quan trọng để bào chữa cho việc không cho bệnh nhân hậu phẫu ăn bằng đƣờng miệng sớm theo thực hành lâm sàng từ trƣớc đến giờ là sợ hậu phẫu bệnh nhân chƣớng bụng, tắc ruột. Tuy nhiên quan điểm này là không có bằng chứng khoa học15.
Theo nghiên cứu của tác giả ngƣời Anh nuôi ăn sớm trong vòng 24 giờ hậu phẫu ở. 2 bệnh nhân cắt đại trực tràng do ung thƣ, cũng nhƣ nghiên cứu của tác giả ngƣời Trung Quốc nuôi ăn hậu phẫu ngày 1, hai tác giả này đều kết luận nuôi ăn sớm bệnh nhân trung tiện sớm hơn, giảm biến chứng hậu phẫu 16,17. Những công trình nghiên cứu của các tác giả Châu Á về nuôi ăn sớm qua đƣờng tiêu hóa hậu phẫu ngày 1 ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật cắt đại tràng17,18. Những tác giả này cũng đã làm nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng giữa 2 nhóm nuôi ăn sớm qua đƣờng tiêu hóa so với nuôi ăn qua đƣờng tĩnh mạch, kết quả cho thấy không có sự khác biệt về tỉ lệ biến chứng xì rò, nhiễm trùng vết mổ giữa 2 nhóm.
Trong khi đó nhóm nuôi ăn sớm qua đƣờng tiêu hóa bệnh nhân trung tiện sớm hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn, giảm chi phí điều trị hơn so với nhóm nuôi ăn đƣờng tĩnh mạch6,19. Hiện tại ở Việt Nam vẫn chƣa có sự thống nhất về vấn đề này, có hai quan điểm khác nhau: 1) Một quan điểm cho rằng: cho ăn sau khi bệnh nhân có trung tiện nhƣ thế sẽ an toàn hơn chỉ là kinh nghiệm, không có bằng chứng khoa học. (2) Còn quan điểm thứ hai thì chủ trƣơng cho bệnh nhân ăn ngay ngày hậu phẫu thứ nhất giống nhƣ một số nghiên cứu gần đây trên thế giới có cơ sở từ Y học chứng cứ. Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa II của tác giả Võ Thị Mỹ Ngọc (2014) “Vai trò của dinh dƣỡng hỗ trợ sớm sau phẫu thuật ung thƣ đại trực tràng” Tác giả đã kết luận nuôi ăn tiêu hóa sớm giúp cải thiện lympho bào trong máu và giảm biến chứng sau mổ.
Tuy nhiên với cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ n=24 nên kết luận này của tác giả chƣa có bằng chứng thuyết phục 20. Năm 2015 chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá kết quả nuôi ăn sớm qua đƣờng miệng sau phẫu thuật cắt dạ dày” tại khoa Ngoại Tiêu Hóa Bệnh Viện Chợ Rẫy. Nghiên cứu này cũng đã đƣợc đăng trên tạp chí y học Thành. 3 Phố Hồ Chí Minh 2016, kết quả nghiên cứu cho thấy nuôi ăn sớm qua đƣờng miệng là an toàn và khả thi, cải thiện lympho bào trong máu, bệnh nhân trung tiện sớm và cảm thấy dễ chịu do đƣợc rút ống thông mũi dạ dày sớm4.
Đối với phẫu thuật cắt nối đại tràng nhiều bác sỹ điều trị vẫn còn ngần ngại trong việc nuôi ăn sớm. Những bác sĩ điều trị chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của mỗi ngƣời chƣa có một quan điểm thống nhất. Đó là lý do chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá kết quả nuôi ăn sớm đƣờng miệng sau phẫu thuật cắt nối đại tràng do ung thƣ”. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cho ăn sớm qua đƣờng miệng (trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật) sau phẫu thuật cắt nối đại tràng do ung thƣ có thật sự mang lại hiệu quả tốt cho bệnh nhân hay không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Đánh giá tính an toàn và khả thi của phƣơng pháp nuôi ăn sớm qua đƣờng miệng sau phẫu thuật cắt nối đại tràng do ung thƣ. Xác định tỉ lệ biến chứng: (xì rò tiêu hóa, nhiễm trùng vết mổ, viêm phổi, rối loạn tiêu hóa, tử vong) sau phẫu thuật cắt nối đại tràng do ung thƣ ở những bệnh nhân cho ăn sớm đƣờng miệng. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lƣợc về giải phẫu đại tràng 1.1 Sơ lƣợc về giải phẫu của toàn bộ khung đại tràng21 Đại tràng là ống tiêu hóa bất đầu từ van hồi manh tràng đến hậu môn. Đại tràng nhƣ một cái khung tạo thành bờ bao xung quanh các quai ruột non nằm giữa ổ bụng.
Đại tràng bắt đầu từ manh tràng ở hố chậu phải, phần trên manh tràng trở thành đại tràng lên, đại tràng lên đi thẳng lên trên ở vùng thắt lƣng phải đến hạ sƣờn phải ở mặt dƣới gan thì uốn cong sang trái tạo nên đại tràng góc gan rồi trở thành đại tràng ngang. Phần đại tràng này đi ngang qua ổ bụng tạo thành quai có độ cong lồi hƣớng xuống dƣới ra trƣớc đến hạ sƣờn trái tạo thành đại tràng góc lách, rồi trở thành đại tràng xuống, đại tràng xuống đi trong vùng thắt lƣng trái và hố chậu trái, đến hố chậu trái thì đổi tên thành đại tràng sigma. Theo nghiên cứu của tác giả Lê Văn Cƣờng thì kích thƣớc đại tràng ở Việt Nam từ 104,8 - 172,3 cm gần tƣơng đƣơng với ngƣời phƣơng Tây. Đại tràng khác với ruột non ở nhiều phƣơng diện: đƣờng kính lớn hơn, trong đa số trƣờng hợp thì đại tràng cố định hơn.
Đại tràng ngang, đại tràng sigma di động, còn lại những phần khác cố định.1: Giải phẫu khung đại tràng Nguồn: Atlas of human anatomy22 1.2 Sự cấp máu và dẫn lưu bạch huyết cho đại tràng21 Các động mạch Đại tràng nhận máu từ cả hai động mạch là động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dƣới. Manh tràng, ruột thừa, đại tràng lên, đại tràng góc gan và 2/3 bên phải đại tràng ngang đƣợc cấp máu từ động mạch hồi manh đại tràng, động mạch đại tràng phải, động mạch đại tràng giữa là nhánh của động mạch mạc treo tràng trên. Phần còn lại bên trái của đại ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng trên đƣợc cấp máu từ mạc treo tràng dƣới.2 Các động mạch của đại tràng Nguồn: Atlas of human anatomy22 Tĩnh mạch Máu tĩnh mạch vùng đại tràng thƣờng đƣợc dẫn lƣu chủ yếu về tĩnh mạch cửa gan thông qua tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch mạc treo tràng dƣới, một phần nhỏ tĩnh mạch trực tràng giữa đổ vào tĩnh mạch chậu trong, tĩnh mạch trực tràng dƣới đổ vào tĩnh mạch sinh dục. 7 Hạch bạch huyết của đại tràng Mạch bạch huyết của vùng manh tràng, đại tràng lên và phần gần của đại tràng ngang sẽ đƣợc dẫn lƣu về hạch bạch huyết quanh động mạch mạc treo tràng trên, trong khi bạch huyết của phần xa đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng sẽ đƣợc dẫn lƣu về hạch bạch huyết quanh động mạch mạc treo tràng dƣới.
Trong trƣờng hợp phần xa của đại tràng ngang, đại tràng góc lách đƣợc cấp máu bởi nhánh của động mạch đại tràng giữa thì bạch huyết của vùng này sẽ đổ về hạch bạch huyết mạc treo tràng trên là chủ yếu.3 Các hạch bạch huyết của đại tràng Nguồn: Atlas of human anatomy22 .2 Sơ lƣợc về sinh lý của đại tràng23 Chức năng của ruột già là hấp thu nƣớc và chất điện giải từ dƣỡng trấp và tích trữ phân cho đến khi phân đƣợc tống thoát.1 Các cử động của ruột già Cử động phân đoạn: Ruột già đƣợc chia thành những phân đoạn giống nhƣ các túi và trong lòng ruột dƣỡng trấp đƣợc nhào trộn qua lại, thay đổi mặt tiếp xúc với niêm mạc ruột, nhờ vậy trong 1000ml dƣỡng trấp ở ruột non khi xuống đến ruột già còn 80-150 ml là không đƣợc hấp thu và đƣa ra ngoài theo phân. Nhu động: Cử động phân đoạn ở trên cũng có tác động nhu động đẩy dƣỡng trấp dọc theo ruột già chậm với vận tốc 5cm/giờ, dƣỡng trấp có khi mất 48 tiếng để đi qua hết ruột già. Cử động toàn thể: khoảng 3-4 lần trong ngày có những cử động toàn thể đẩy dƣỡng trấp về phía trực tràng, tần số co thắt của trực tràng cao hơn của sigma nên phân đẩy ngƣợc lên sigma.2 Sự tống thoát phân Trong phần lớn thời gian trực tràng không chứa phân. Khi có cử động toàn thể phân đƣợc đẩy vào trực tràng gây phản xạ co thắt trực tràng và giãn cơ thắt hậu môn.
Khi phân làm căng thành trực tràng, các tín hiệu hƣớng tâm dẫn đến sự co thắt của đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng, khi nhu động đi về phía hậu môn cơ thắt hậu môn giãn ra tạo cảm giác muốn đại tiện.3 Hoạt động khác của ruột già Bài tiết chất nhầy: niêm mạc ruột già bài tiết chất nhầy, có vai trò làm trơn dƣỡng trấp và bảo vệ niêm mạc không bị tấn công bởi axít của vi khuẩn. Bài tiết nƣớc và điện giải: ruột già chỉ có thể hấp thu tối đa 5-8 lít nƣớc trong tổng số 8-10 lít nƣớc đi vào ruột. Bình thƣờng ruột già hấp thu 400 ml nƣớc. Na+ và Cl_ chƣa đƣợc hấp thu ở ruột non sẻ đƣợc hấp thu tiếp ở ruột già.
K+, HCO3_ đƣợc bài tiết ở ruột già. Vi khuẩn ruột già: vi khuẩn ruột già là vi khuẩn yếm khí, có vai trò trong chuyển hóa muối mật, tổng hợp vitamin K, vitamin B.