chương 1, thu thập dữ liệu đề tài ở chương 2 Sử dụng dữ liệu sơ cấp: thông qua việc quan sát, lấy thông tin dữ liệu từ bảng câu hỏi khảo sát khách hàng có thực hiện giao dịch tại VietinBank Đồng Tháp. Sau đó số liệu thu thập được tổng hợp, kiểm tra, xử lý và phân tích dữ liệu thông qua các bảng thống kê mô tả, từ đó đưa ra nhân định, đánh giá vấn đề nghiên cứu. Sử dụng dữ liệu thứ cấp: dựa trên các nguồn dữ liệu có sẵn từ các báo cáo nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước của các tác giả trước đó, số liệu kết quả kinh doanh của ngân hàng, các Thông tư, Nghị định chính phủ, các nguồn số liệu chính thống, báo đài…tác giả thực hiện chọn lọc, tham khảo, kế thừa có hệ thống các dữ liệu này để đưa vào bài nghiên cứu. Phƣơng pháp thống kê mô tả Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để tổng hợp và phân tích, so sánh số liệu dựa trên dữ liệu thứ cấp từ Ngân hàng cung cấp thông qua các Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
7 Phƣơng pháp so sánh và phân tích tỉ lệ Từ các dữ liệu thứ cấp của VietinBank chi nhánh Đồng Tháp, tác giả đồng thời thu thập các dữ liệu tương ứng của các ngân hàng khác, phân tích so sánh đổi chiếu để đánh giá thực chất kết quả đạt được cũng như chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng của VietinBank Đồng Tháp. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu sơ cấp từ xây dựng phiếu khảo sát, phỏng vấn thu thập thông tin. Tác giả thực hiện khảo sát đánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đồng Tháp. Trên cơ sở tổng hợp kết quả để rút ra những tồng tại, hạn chế, để đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank - Chi nhánh Đồng Tháp.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn đã tiến hành tìm hiểu thực trạng và chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Tháp, để tiến hành đánh giá hoạt động dịch vụ thẻ tín dụng. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp để ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ và làm cho khách hàng luôn cảm thấy hài lòng đối với chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng. Đồng thời từ kết quả phân tích đánh giá thực trạng, luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại VietinBank - Chi nhánh Đồng Tháp để đáp ứng mục tiêu chiến lược của VietinBank - Chi nhánh Đồng Tháp giai đoạn 2021- 2025, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh hiện nay. Kết cấu của luận văn Với mục tiêu và phương pháp luận trình bày ở phần trên, tác giả xây dựng luận văn gồm 03 phần chính như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Đánh giá hoạt động dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Tháp Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Tháp 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về hoạt động thẻ tín dụng 1. Những vấn đề cơ bản về thẻ tín dụng 1. Khái niệm Khái niệm Thẻ tín dụng: Thẻ là một hình thức thanh toán hiện đại không sử dụng tiền mặt, do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phát hành và cấp cho khách hàng sử dụng các dịch vụ như vấn tin số dư tài khoản, rút tiền, giao dịch thanh toán hóa đơn, hàng hóa dịch vụ. Dựa vào tính chất thanh toán, thẻ gồm thẻ ghi nợ, thẻ trả (thẻ tín dụng).
Với Thẻ ghi nợ, khách hàng thực hiện các giao dịch trong phạm vi số dư tài khoản của bản thân. Với Thẻ tín dụng, khách hàng được cấp một hạn mức cố định dựa vào bảng lương (tín chấp) hoặc tài sản ký quỹ, đảm bảo (thế chấp) để thực hiện giao dịch, thanh toán và hàng tháng khách hàng sẽ thực hiện thanh toán lại cho ngân hàng các khoản đã giao dịch bằng thẻ này. Thẻ được hình thành và cung cấp theo quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ theo văn bản hợp nhất số 15/VBHN-NHNN ngày 07/12/2021 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước. Thẻ tín dụng (credit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch, thanh toán với các đơn vị tổ chức dựa trên hạn mức tín dụng đã được ngân hàng, tổ chức phát hành cấp trước.
Có thể nói dễ hiểu hơn, thẻ tín dụng là loại thẻ mà bạn có thể dùng tiền của đối tượng cung cấp thẻ mua các loại hàng hóa bạn mong muốn và sau đó thanh toán lại sau. Một định nghĩa khác của thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng là một loại thẻ do ngân hàng phát hành với mục đích cấp sẵn một số tiền nhất định cho khách hàng trong hạn mức đã thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng mà không cần có số dư trong thẻ. Với loại hình thẻ này, khách hàng hoàn toàn chủ động trong quá trình chi tiêu và linh hoạt trong quá trình thanh toán với ngân hàng trong thời gian quy định và số tiền tối thiểu ngân hàng thông báo hàng tháng. 9 Khái niệm về chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng: Nói về chất lượng dịch vụ thì đây là một phạm trù khá phức tạp và có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Lehtnen và Lehtinen (1982) cho rằng” Chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh là quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ” Theo Parasuman& ctg (1988) thì “ Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ đó” Tóm lại, chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng là tất cả các tính năng và đặc điểm mà dịch vụ thẻ tín dụng đó mang lại nhằm thỏa mãn những nhu cầu của người yêu cầu phát hành thẻ đặt ra. Chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng của một ngân hàng là kết quả của quá trình đánh giá, sự so sánh giữa chất lượng mong đợi của khách hàng và việc cung ứng dịch vụ thẻ tín dụng của ngân hàng. Ở các quốc gia với những môi trường văn hóa khác nhau thì người tiêu dung tại mỗi quốc gia đó có cảm nhận và đo lượng hiệu quả dịch vụ không giống nhau. Quá trình hình thành và phát triển của thẻ tín dụng Thẻ tín dụng được ra đời dựa trên nền tảng của hệ thống mua bán chịu, được lập ra năm 1946 do John Biggins khởi xướng.
Vơi hình thức sơ khai “Charg – it” các hoạt động tín dụng còn khá đơn giản. Binggins cho phép khách hàng thanh toán tiền cho các cơ sở mua bán nhỏ, lẻ tại địa phương thông qua các thẻ; sau đó các cơ sở này nộp lại biên lai và nhận tiền từ ngân hàng của Biggins; còn Biggins sẽ thu lại tiền từ khách hàng dựa trên số thẻ có thông tin khách hàng đã thu lại được. Sau đó, lần đầu tiên thẻ tín dụng được phát hành vào năm 1951 do Ngân hàng Franklin National Bank ở Long Island, New York, Mỹ thực hiện thông qua các bước khách hàng có đơn yêu cầu vay vốn, được ngân hàng thẩm định có khả năng chi trả các khoản vay và tiến hành cấp thẻ tín dụng cho khách hàng. Khách hàng dùng thẻ tín dụng thực hiện các giao dịch cần thiết cho các đối tượng chấp nhận thẻ.
Sau đó các đối tượng chấp nhận thẻ này ghi nợ của khách hàng thông qua thẻ vào hóa đơn đồng thời gửi cho ngân hàng quản lý thẻ để nhận lại tiền sau khi đã trừ một số khoản phí nhất định. Với nhu cầu ngày càng tăng, các giao dịch thanh toán thông qua thẻ ngày càng được nâng cấp và tăng trưởng với sự hình thành của các tổ chức mới như Bank of America năm 1960, hay InterBank năm 1966, mà ngày càng nhiều tổ chức tài chính 10 ngân hàng tham gia trở thành thành viên. Đây là tiền thân của tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard hiện nay: năm 1977 Bank Americard trở thành Visa USA và sau này là Tổ chức thẻ quốc tế Visa; năm 1979 MasterCharge trở thành tổ chức thẻ quốc tế Mastercard. Được hình thành phương thức mua bán chịu hàng hóa, thẻ ngân hàng đã được nâng cấp vượt trội từ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng và sản phẩm dịch vụ thẻ là dịch vụ nổi bật trong các dịch vụ bán lẻ của ngân hàng.
Phân loại thẻ tín dụng Theo công nghệ sản xuất thẻ Dựa vào công nghệ sản xuất, thẻ tín dụng được phân loại như sau: Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ áp dụng kĩ thuật khắc chữ nổi trên thẻ. Hình thức thẻ này thô sơ, tính chất bảo vệ thông tin cá nhân kém, các đối tượng xấu dễ tạo giả thẻ. Với những hạn chế này, thẻ khắc chữ nổi hiện không còn tồn tại trên thị trường. Thẻ từ: khắc phục nhược điểm từ thẻ khắc chữ nổi, loại thẻ từ được hình thành dựa trên công nghệ thư tín chứa dữ liệu thông tin khách hàng cố định.
Tuy nhiên loại thẻ này cũng có hạn chế là dung lượng thấp, lưu trữ được ít dữ liệu, an ninh thẻ thấp, dễ bị đánh cắp thông tin cá nhân. Thẻ chip: nhằm giảm thiểu những hạn chế của thẻ từ, là loại thẻ gắn “chip” có dung lượng lưu trữ lớn và xử lý được dữ liệu cá nhân được xây dựng và hình thành dựa trên kỹ thuật công nghệ cao. Thẻ không tiếp xúc: là loại thẻ công nghệ kết hợp giữa chip điện tử và ăngten truyền tín hiệu. Với loại thẻ này khách hàng được phép thanh toán mà không cần tiếp xúc thẻ tại nơi giao dịch với bất kì hình thức nào tại các dịch vụ công cộng như: trạm xăng, tàu điện, xe buýt… Theo đối tượng sử dụng Thẻ cá nhân: Đối tượng xin cấp tín dụng là cá nhân độc lập.
Thẻ được phát hành sau khi thỏa mãn các điều kiện xin cấp tín dụng của cá nhân. Cá nhân tự chịu trách nhiệm với những khoản tiêu dùng cá nhân và hoàn trả dựa trên số đã tiêu dùng và các quy định của ngân hàng phát hành thẻ bằng chính khả năng tài chính của mình.