CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VỀ LĨNH vực NGHIÊN cứu Trong chương này tác giả tập trung giới thiệu các nghiên cứu trong nước và ngoài nước xoay quanh đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức KTNB làm cơ sở cho tác giả kế thừa kết quả nghiên cứu từ các nghiên cứu trước để xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn.1 Lược khảo các nghiên cứu liên quan tói đề tài ĩ.1 Các nghiên cữu nước ngoài ^Nghiên cứu về đo lường hiệu quả của KTNB Bota-Avram & Ioan Popa & Cristina Stefanescu (2011) nghiên cứu xem xét đến phương pháp đo lường hiệu quả của hoạt động KTNB. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm sáng tỏ nhiều lĩnh vực kinh tế khó khăn cần được xem xét và thảo luận về hiệu quả hoạt động của chúng. Một trong những lĩnh vực có vấn đề này được thể hiện qua hiệu quả hoạt động của KTNB và các phương pháp phù hợp để đo lường nó. Dựa trên phân tích các thông lệ KTNB gần đây nhất tại các công ty quốc tế hàng đầu, mục tiêu chính của chúng tôi là phát triển sự tổng hợp các phương pháp phù hợp nhất có thể được sử dụng để đo lường tính hiệu quả của KTNB, theo quan điểm quốc tế, và cả để xác định các xu hướng chính sẽ ảnh hưởng đến hoạt động KTNB theo quan điểm hoạt động.
Mehdi Moradi and Ehsan Rahmani Nia (2020) đã điều tra tác động của các yếu tố tổ chức dựa trên khuôn khổ công nghệ - môi trường tổ chức (TOE) đến các cấp độ và đặc biệt áp dụng phân tích kiểm toán và hiệu quả KTNB. Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng phân tích kiểm toán sau khi áp dụng các phân tích và sử dụng phân tích kiểm toán có cải thiện hiệu suất KTNB hay không. Đây là một nghiên cứu mô tả, tương quan. Cỡ mẫu thống kê của nghiên cứu bao gồm: Ke toán viên hành nghề làm việc tại các Tổ chức Kiểm toán, các tổ chức của Hiệp hội Ke toán viên sử dụng công thức Cochran, 150 cá nhân được chọn làm mẫu.
Công cụ thu thập dữ liệu là một bộ câu hỏi gồm 21 8 mục do nhà nghiên cứu thực hiện, tính giá trị được xác nhận bằng phương pháp khuôn mặt và cấu trúc, độ tin cậy của bảng câu hỏi được xác nhận bằng Cronbach’s alpha. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm Amos 22 và phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc. Các phát hiện cho thấy sự phức tạp của công nghệ thông tin (CNTT), năng lực công nghệ, hỗ trợ quản lý và hỗ trợ chuyên môn có tác động tích cực và đáng kể đến mức độ ứng dụng và phần mềm của phân tích kiểm toán. Quy mô của tổ chức và các tiêu chuẩn kiểm toán có tác động đáng kể và tích cực đến hiệu quả hoạt động của các nhà phân tích được kiểm toán.
Kiểm toán chức năng có tác động tích cực và đáng kể đến mức độ phân tích kiểm toán (phần mềm), kiểm toán chức năng và phân tích kiểm toán có tác động tích cực đáng kể đến hiệu suất KTNB. *Nghiên cứu về các nhân tổ ảnh hưởng đến hiệu quả của tổ chức KTNB Hella Dellai, Mohamed All Omri & Brahim Omri (2016) đã nghiên cứu những nhân tố tác động đến hiệu quả KTNB trong bối cảnh tại Tunisia. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ bảng câu hỏi được gửi đến các giám đốc điều hành kiểm toán của 148 tổ chức tại Tunisia. Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bội trong nghiên cứu nhằm xác định mối quan hệ giữa tính hiệu quả của chức năng KTNB với sáu yếu tố chính.
Kết quả cho thấy có 05 nhằn tố đã tác động tới hiệu quả của KTNB đó là: (i) Tính độc lập của KTNB, (ii) tính khách quan của KTNB, (iii) sự hỗ trợ của quản lý đối với KTNB, (iv) việc sử dụng chức năng KTNB như một cơ sở đào tạo về quản lý và (v) lĩnh vực tổ chức. Nghiên cứu đã mang lại nhiều nội dung có giá trị cho người học giả và người nghiên cứu quan tâm đến những nhân tố quyết định tính hiệu quả của KTNB nhân tố quyết định tính hiệu quả của KTNB tại các quốc gia đang phát triển. Việc điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến KTNB và mối quan hệ của nó với hiệu quả hoạt động của tổ chức (Barzan Omar All, 2018). Nghiên cứu này được lấy theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.
Dữ liệu được thu thập bằng bảng cằu hỏi. Tất cả các biến được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm. Kết quả cho thấy mối quan hệ thống kê giữa năng lực của bộ phận KTNB, chất lượng công việc KTNB, sự hỗ trợ của lãnh đạo đối với KTNB, tính độc lập của KTNB, đào 9 tạo và huấn luyện, công nghệ thống tin ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức. Hạn chế của nghiên cứu này là số lượng mẫu còn khá nhỏ; do đó sẽ khó có thể khái quát hóa những phát hiện này để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của KTNB.
Nghiên cứu trong tưong lai nên xem xét cỡ mẫu lớn hon và bao gồm nhiều yếu tố KTNB hon để đo lường hiệu quả hoạt động của tổ chức. Mokono Ruth M & Nasieku Tabitha (2018) nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của kiểm toán viên nội bộ tại các trường đại học công lập ở Kenya. Nhằm đạt được các mục tiêu: xác định môi trường làm việc như thế nào, đánh giá những thách thức đối với tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ, đánh giá tác động của trình độ năng lực kỹ thuật, huấn luyện đào tạo của KTNB ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của kiểm toán viên nội bộ trong các trường đại học công lập ở Kenya. Vì vậy, nghiên cứu này đánh giá tác động của môi trường làm việc, xác lập ảnh hưởng của tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ và ảnh hưởng của năng lực kiểm toán viên nội bộ đến hoạt động của kiểm toán viên nội bộ tại các trường đại học công lập ở Kenya.
Thiết kế nghiên cứu mô tả đã được áp dụng với đối tượng mục tiêu là kiểm toán viên nội bộ trưởng từ 31 trường đại học công lập được công nhận ỏ Kenya đã được Bộ Giáo dục Đại học đăng ký. Ảp dụng kỹ thuật lấy mẫu đon giản ngẫu nhiên với cỡ mẫu là 310. Dữ liệu sơ cấp được sử dụng để phân tích. Nghiên cứu phát hiện ra rằng môi trường làm việc của kiểm toán viên nội bộ, tính độc lập và quyền hạn của KTNB, năng lực chuyên môn của kiểm toán viên nội bộ, đào tạo huấn luyện có ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng KTNB.
Nghiên cứu khuyến nghị kiểm toán viên nội bộ nên coi việc tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp là yếu tố quan trọng nhất góp phần vào hiệu quả hoạt động của KTNB. Ban quản lý các trường đại học công lập nên tiếp tục tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề để các kiểm toán viên nội bộ được đào tạo thường xuyên bởi các chuyên gia nội bộ hoặc bên ngoài. and Hassan, H (2019) nghiên cứu đã điều tra tác động điều tiết của mức độ phức tạp của nhiệm vụ đối với sự hợp tác của kiểm toán viên bên ngoài (EAC), trao quyền cho quản lý cấp cao và tính độc lập của 10 kiểm toán viên nội bộ, chất lượng cuộc kiểm toán, công nghệ thông tin ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm toán viên nội bộ trong khu vực công của Jordan. Bài viết này sử dụng 117 bảng câu hỏi có thể sử dụng được từ các nhà quản lý tài chính và nhà quản lý KTNB (IA) của các tổ chức khu vực công Jordan.
Dữ liệu thu thập được phân tích bằng mô hình phưong trình cấu trúc bình phưong nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy rằng EAC, trao quyền cho quản lý cấp cao và tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ, chất lượng cuộc kiểm toán, công nghệ thông tin là những yếu tố ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến tính hiệu quả của kiểm toán viên nội bộ, được hỗ trợ bỏi lý thuyết dựa trên nguồn lực, với sự hỗ trợ không đầy đủ cho vai trò điều hành của mức độ phức tạp của nhiệm vụ. Những phát hiện này rất quan trọng đối với những người ra quyết định và cơ quan quản lý trong việc đưa ra luật và quy định mới cho nghề IA trong khu vực công của Jordan. Nó cho thấy rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của KTNB chắc chắn có thể nâng cao khả năng của họ trong việc đạt được vai trò của IA trong việc bảo vệ quỹ công và hạn chế các hành vi tham nhũng về tài chính và hành chính, đặc biệt là trong khu vực công.
Theo hiểu biết tốt nhất của các tác giả, nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên đề cập đến sự phức tạp của nhiệm vụ như là một tác động tương tác lên các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của kiểm toán viên nội bộ trong khu vực công. Nghiên cứu Almahuzi, Ahmed Salman (2020) điều tra tính hiệu quả của KTNB trong khu vực công ở Ả Rập Saudi. Lý thuyết dựa trên nguồn lực được sử dụng để khám phá các yếu tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến hiệu quả KTNB. Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của bộ phận KTNB trong khi các yếu tố bên trong là những yếu tố nằm trong tầm kiểm soát của bộ phận KTNB.
Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa ba yếu tố bên ngoài: sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao, văn hóa tổ chức và tính độc lập của KTNB. Đồng thời cũng xem xét mối quan hệ giữa bốn yếu tố nội bộ: Động lực của nhân viên KTNB, quy mô của nhóm KTNB, sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và năng lực của kiểm toán viên nội bộ. Cuối cùng, nghiên cứu xem xét các nguyên nhân dẫn đến việc chưa triển khai bộ phận KTNB ở một số tổ chức chính phủ. Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng phương pháp hỗn hợp bao gồm phỏng vấn bán 11 cấu trúc và bảng câu hỏi.
Tổng cộng có 36 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc đã được thực hiện để thu thập quan điểm của người tham gia về bản chất của KTNB trong khu vực công ở Ả-rập Xê-Út và các vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm toán. Hon nữa, 300 câu hỏi đã được phân phát cho các nhà quản lý đon vị KTNB và nhân viên KTNB khu vực công ở Ả Rập Saudi, trong đó có 290 câu hỏi đã được trả lại.