Tổng quan luận án
Vấn đề bạo lực học đường và những xung đột mang tính bạo lực ở trẻ em có nguồn gốc sâu xa từ hành vi hung tính. Hành vi này thể hiện qua các biểu hiện như gây gổ, hung hăng, dễ bị kích động, cáu kỉnh, bực bội, cứng đầu và thù địch với người xung quanh. Các mối quan hệ của trẻ có hành vi hung tính với gia đình, bạn bè và giáo viên thường xuyên rơi vào tình trạng căng thẳng, mâu thuẫn, làm suy giảm sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của trẻ. Nếu không được can thiệp sớm, hung tính có nguy cơ trở thành đặc điểm tính cách ổn định tiêu cực, gây cản trở sự phát triển nhân cách và hòa nhập xã hội. Các nghiên cứu theo chiều dọc trên thế giới (Campbell, 1995, 2000; William Bor và cộng sự, 2001) đã chứng minh rằng khoảng 50% số trẻ xuất hiện hành vi hung tính trong những năm học mẫu giáo sẽ tiếp tục bộc lộ hành vi này ở tuổi thiếu niên, và một tỷ lệ đáng kể sẽ tham gia vào các hành vi chống đối xã hội, lạm dụng chất, thất bại học đường hoặc phạm pháp.
Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy từ đầu năm học 2009 - 2010, cả nước đã xảy ra 1.598 vụ học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học; các cơ sở giáo dục đã kỷ luật khiển trách 881 học sinh, cảnh cáo 1.558 học sinh và buộc thôi học có thời hạn đối với 735 học sinh (bình quân cứ 11,1 học sinh thì có 1 em bị kỷ luật thôi học có thời hạn vì đánh nhau). Việc xử lý bạo lực học đường hiện nay vẫn chưa mang tính đồng bộ và triệt để do chưa can thiệp từ giai đoạn trẻ bắt đầu hình thành ý thức về thế giới, ranh giới hành vi và tính kỷ luật ở lứa tuổi mẫu giáo. Đa số các công trình trong nước trước đây chỉ tập trung vào học sinh tiểu học, trung học cơ sở hoặc dừng lại ở việc thích nghi thang đo, để lại một khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn tại các trường mầm non công lập.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở lý luận và chỉ rõ thực trạng hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay; từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu hành vi hung tính một cách hiệu quả.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát hoá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hành vi, hành vi hung tính phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận án.
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hiện tượng tâm lý này.
- Làm rõ thực trạng biểu hiện và mức độ hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay; phân tích mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan tới hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn.
- Đề xuất biện pháp tâm lý – giáo dục nhằm giảm thiểu hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn một cách hiệu quả.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu được xác định qua các giới hạn:
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu biểu hiện và một số nhân tố tác động đến hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn; chỉ nghiên cứu biểu hiện hành vi hung tính của trẻ trong thời gian ở trường; chỉ nghiên cứu biểu hiện ra bên ngoài thông qua hai hình thức là hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ; tiếp cận dưới khía cạnh tâm lý học chứ không nghiên cứu khía cạnh sinh lý học thần kinh; đề tài chỉ đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục chứ không tổ chức thực nghiệm biện pháp trên thực tế.
- Về địa bàn: Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường mầm non công lập đại diện cho hai khu vực kinh tế - văn hóa - xã hội đặc thù của thành phố Đà Nẵng: Trường Mầm non 20/10 thuộc quận Hải Châu (quận trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa và giáo dục) và Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 thuộc huyện Hoà Vang (huyện ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng, người dân chủ yếu làm nông nghiệp).
- Về khách thể: Khách thể nghiên cứu bao gồm 207 trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), cùng đội ngũ giáo viên đứng lớp và cha mẹ của các trẻ được khảo sát.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về hành vi hung tính trên thế giới và tại Việt Nam được tác giả luận án điểm lại theo ba nhóm vấn đề chính:
Nhóm nghiên cứu lý luận, biểu hiện và quỹ đạo phát triển của hành vi hung tính:
Về biểu hiện lứa tuổi, Shentoub và Soulairac (1961) nhận thấy hung tính ở trẻ sơ sinh thể hiện qua việc tự làm đau mình hoặc gây hấn với người khác, giảm dần và biến mất quanh mốc 24 tháng; hành vi giậm chân, ném đồ vật và đánh xuất hiện lặp lại ở 42% trẻ 4 tuổi. Goodenough (1931) và Walters (1957) chỉ ra từ 4 tuổi trở đi, biểu hiện ngôn ngữ dần chiếm ưu thế so với biểu hiện vận động; hành vi vận động xuất hiện ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái và gia tăng trong khoảng 2 đến 4 tuổi. Sand và cộng sự (1973) nghiên cứu trường diễn trên 99 trẻ từ 3 đến 9 tuổi, chỉ ra các cơn giận dữ giảm dần và mất hẳn từ 7 đến 9 tuổi, sự phá hủy đồ vật xuất hiện quanh 4 tuổi rồi giảm bớt, trong khi sự không vâng lời là nét hành vi bền vững nhất. Smith và Green (1975) quan sát 40 trẻ trước tuổi đến trường và ghi nhận cãi vã xuất hiện nhiều ở 3 tuổi, giảm dần từ 3 đến 5 tuổi; hành vi thể chất chiếm ưu thế ở 2-3 tuổi và chuyển sang ngôn ngữ ở 4-5 tuổi. Michel Born (1988, 2014) phân loại các thành tố gây hấn ở trẻ mẫu giáo thành 5 nhóm: mưu toan sử dụng sự chi phối/uy quyền/lãnh đạo; hung tính trực tiếp thể hiện sức mạnh thể chất nam tính; hung tính thể chất trực tiếp mang tính nguyên thủy (kéo tóc, cào, cắn, xuất hiện ở trẻ 18-30 tháng, nếu xuất hiện ở trẻ 5-6 tuổi thường gắn với nét tính cách yếu ớt, lo sợ); hung tính bị động (chống đối, im lặng, từ chối tuân thủ); hung tính không định hướng (giải phóng cảm xúc tiêu cực ra đồ vật hoặc bản thân).
Về khác biệt giới tính, E. Maccoby và Carol Jacklin (1978) quan sát trẻ em tại Mỹ, Thụy Điển và Ethiopia, chứng minh bé trai bộc lộ nhiều hành vi hung tính thể chất hơn bé gái; bé gái thể hiện hung tính kín đáo hơn qua kênh gián tiếp và ngôn ngữ. Stattin và Magnusson (1989), Bogard (1990), Harris (1992, 1994), Osterman và cộng sự (1998) khẳng định nam giới có xu hướng tấn công trực tiếp vào đối tượng gây ức chế, trong khi nữ giới thiên về gây hấn gián tiếp.
Về diễn biến trường diễn, Tremblay và cộng sự (1991, 1999) theo dõi 1.037 trẻ trai tại Montreal từ mẫu giáo đến 17 tuổi, phát hiện 5,1% trẻ thuộc nhóm bạo lực ổn định gặp khó khăn nghiêm trọng trong thích ứng học đường lúc 11 tuổi (chỉ 31,9% học lớp 5 bình thường, 25,5% phải vào lớp giáo dục đặc biệt); phân loại 6 quỹ đạo phạm pháp (55% không phạm pháp, 14% phạm pháp nhẹ, 8% tăng dần nhẹ, 13% giảm dần nhẹ, 6% nghiêm trọng giảm dần, 5% nghiêm trọng tăng dần). Nhóm Cambridge của West và Farrington (1973), Farrington (1989, 1991) theo dõi 411 trẻ trai tại London từ 8 đến 32 tuổi về hành vi chống đối xã hội. Nghiên cứu Dunedin tại New Zealand của White, Moffitt, Earls, Robins, Silva (1990) trên 1.000 khách thể chỉ ra 5,4% trẻ duy trì hành vi chống đối xã hội từ 9 đến 13 tuổi (trong đó 30% từng bị xác định khó trị từ lúc 3 tuổi). Boët và Born (2001) khảo sát 350 trẻ sinh năm 1989 tại Liège; Loeber và Farrington (1997) chỉ ra sự chấm dứt tính tăng động ở trẻ 3-4 tuổi diễn ra mạnh gấp 3,5 lần so với nhóm 4-8 tuổi.
Về nguyên nhân, Roger Barker, Tamara Dembo, Kurt Lewin (1941) thực nghiệm chứng minh mức độ thất vọng tỉ lệ thuận với hành vi hung tính. Friedrich và Stein (1973) chứng minh truyền thông bạo lực kích thích hung tính ở trẻ mẫu giáo, nhất là bé trai. Marry Haskett và Janet Kiner chỉ ra trẻ bị ngược đãi bộc lộ hung tính cao hơn trẻ bình thường. Eron và Patterson ghi nhận cha mẹ trừng phạt bằng đòn roi khiến trẻ bắt chước hành vi bạo lực. Mackenzie và cộng sự (2014) khảo sát 1.900 trẻ 5 tuổi tại 20 thành phố ở Mỹ, ghi nhận 52% người mẹ và 33% người bố đánh con bằng đòn roi lúc 5 tuổi; những trẻ bị đánh có xu hướng cư xử tiêu cực hơn và có điểm kiểm tra từ vựng lúc 9 tuổi thấp hơn bình thường.
Tại Việt Nam, các tác giả Phạm Mạnh Hà, Trần Thu Hương và Đặng Hoàng Ngân (phân tích 3 cấu trúc tâm lý: nhiễu tâm, loạn tâm và trạng thái giới hạn), Trần Thị Minh Đức (2010), Nguyễn Thị Minh Hằng (2012), Đinh Thị Kim Thoa (2000), Nguyễn Thị Trâm Anh (2012) đã tiếp cận khái niệm, cấu trúc tâm lý và nguyên nhân của hành vi hung tính ở học sinh tiểu học, vị thành niên và sinh viên.
Nhóm nghiên cứu xây dựng công cụ đánh giá:
Các công cụ quốc tế gồm Bảng kiểm hành vi trẻ em CBCL của Thomas Achenbach (phiên bản CBCL/1½-5 đánh giá qua thang 3 điểm); tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (1984) với 14 tiêu chí thuộc 4 nhóm (hung hãn với người và súc vật, phá hoại tài sản, lừa đảo/ăn cắp, vi phạm nghiêm trọng luật lệ); tiêu chí quan sát 8 dấu hiệu của Baker; Thang đánh giá hành vi hung tính công khai sửa đổi MOAS (Yudofsky và cộng sự, 1988; Kay và cộng sự, 1988); trắc nghiệm phóng chiếu tranh vẽ "Con vật không có thật" của Maia Zakharovna Dukarevich (1990) với thang 18 điểm; Bảng kiểm hành vi phát triển DBC của Einfeld và Tonge (1992); Thang hành vi xã hội trẻ em CSBS của Ladd (1996); Thang đo sự gây hấn trẻ em CAS của Halperin và McKay (2002) với bản cho phụ huynh (CAS-P) và giáo viên (CAS-T); Thang đánh giá hành vi tổng thể Conner CBRS của C. Keith Conners (2008). Tại Việt Nam, Phan Thị Mai Hương (2012) thích nghi thang Conner CBRS-SR; Nguyễn Thị Mùi và Nguyễn Thị Nhân Ái (2012) thích nghi thang đo trên học sinh lớp 4 đến 12; Nguyễn Thị Trâm Anh (2012) thử nghiệm trắc nghiệm "Con vật không có thật" trên trẻ từ 5 tuổi; Nguyễn Thị Minh Hằng (2012) xây dựng quy trình chẩn đoán 7 giai đoạn.
Nhóm nghiên cứu biện pháp can thiệp, giảm thiểu:
Nghiên cứu quốc tế có chương trình Making Choices tại trường học gồm 31 bài học (Fraser và cộng sự, 2001); chương trình GREAT tiếp cận qua giáo viên và gia đình với 15 buổi học (Pamela Orpinas và Arthur M. Horne, 2013); mô hình can thiệp gia đình của Patterson; chương trình tâm lý giáo dục 4 buổi tại Nhật Bản của Mikayo Ando và cộng sự (2007); trị liệu nghệ thuật Adlerian của Froeschle và Riney; liệu pháp nhận thức - hành vi CBT 10 buổi của Paul (2013). Tại Việt Nam, Bahr Weiss, Đặng Hoàng Minh và cộng sự thích nghi chương trình RECAP ("Nối kết"); Đinh Thị Kim Thoa (2002) đề xuất biện pháp phát triển sự đồng cảm; Knud S. Larsen và Lê Văn Hảo (2010), Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Thị Minh Hằng (2012) đề xuất trị liệu nhận thức - hành vi, trị liệu chơi và quản lý cảm xúc.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn công trình trong nước chỉ tập trung vào lứa tuổi học sinh phổ thông hoặc dừng lại ở việc tổng quan lý thuyết và thích nghi công cụ. Chưa có công trình nào nghiên cứu thực nghiệm một cách toàn diện về mức độ, các dạng biểu hiện (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) của hành vi hung tính ở trẻ mẫu giáo lớn tại các trường mầm non công lập, đồng thời phân tích các mối tương quan đa biến (giới tính, địa bàn đô thị - nông thôn, vị trí con trong gia đình, nghề nghiệp cha mẹ) và kiểm định hồi quy các yếu tố ảnh hưởng để đề xuất biện pháp can thiệp tâm lý - giáo dục phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các lý thuyết tâm lý học nền tảng:
- Thuyết tiến hóa và tập tính học: Darwin đưa quan điểm chọn lọc tự nhiên vào sự cạnh tranh sinh tồn; Konrad Lorenz (1960, 1966) xem hung tính là bản năng bẩm sinh nhằm bảo vệ cá thể, duy trì nòi giống và thích nghi môi trường.
- Thuyết phân tâm học: S. Freud giải thích hành vi hung tính bắt nguồn từ sự đổi hướng của "xung năng chết" (Thanatos) đối lập với "xung năng sống" (Eros); năng lượng dồn nén trong vô thức bùng phát ra ngoài nhằm gây tổn hại cho đối tượng khác hoặc bản thân để giải tỏa căng thẳng.
- Thuyết động lực và giả thuyết thất vọng - gây hấn: J. Dollard và cộng sự (1939) cho rằng sự thất vọng khi mục tiêu bị cản trở sẽ kích hoạt động cơ gây hấn; Berkowitz (1987) bổ sung rằng các biến cố gây trải nghiệm khó chịu kết hợp với các kích thích môi trường sẽ làm nảy sinh hành vi hung tính.
- Thuyết hành vi và nhận thức - hành vi: Thuyết hành vi cổ điển (Watson, Thorndike, Skinner) giải thích hành vi theo mô hình $S \rightarrow R$ (kích thích bạo lực dẫn đến phản xạ đáp trả bạo lực); thuyết nhận thức - hành vi mở rộng thành $S \rightarrow M \rightarrow R$, trong đó $M$ là quá trình nhận thức, đánh giá và cảm xúc của chủ thể; Beck (1998) nhấn mạnh sai lệch trong nhận thức về sự nguy hiểm dẫn đến phản ứng thô bạo.
- Thuyết học tập xã hội: Bandura (1973, 1986) khẳng định hành vi hung tính được hình thành do trẻ quan sát, bắt chước các khuôn mẫu hành vi bạo lực từ môi trường xung quanh và được củng cố xã hội.
- Mô hình gây hấn phổ quát (GAM): Anderson và Bushman (2002) tích hợp các yếu tố sinh học, nhân cách, xã hội và bối cảnh tình huống tác động đến nhận thức, cảm xúc, hưng phấn sinh lý, dẫn đến các mức độ hung tính khác nhau.
Về khái niệm công cụ, tác giả phân tích khái niệm hành vi (cách xử sự của con người trong hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định, mang tính có ý thức và tính biểu hiện) và phân biệt giữa "hung tính" (phẩm chất tâm lý trong cấu trúc nhân cách, có mục đích gây tổn thương cho người khác hoặc bản thân) với "gây hấn" (quá trình hành vi cụ thể bộc lộ ra bên ngoài). Hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn được xác định là hành vi cố ý gây tổn hại về thể chất hoặc tinh thần cho bạn bè, người khác hoặc đồ vật, bộc lộ qua lời nói (ngôn ngữ) hoặc hành động, cử chỉ, điệu bộ (phi ngôn ngữ) trong sinh hoạt và học tập tại trường mầm non.
Phương pháp luận nghiên cứu gồm 3 nguyên tắc:
- Nguyên tắc hoạt động: Tâm lý hình thành, phát triển và bộc lộ qua hoạt động; nghiên cứu hành vi hung tính của trẻ phải thông qua các hoạt động vui chơi, học tập, sinh hoạt hàng ngày tại trường.
- Nguyên tắc quyết định luận duy vật của các hiện tượng tâm lý: Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua chủ thể; hành vi hung tính chịu sự chi phối biện chứng của các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường gia đình, nhà trường và các hiện tượng tâm lý khác (nhận thức, cảm xúc).
- Nguyên tắc phát triển: Mọi hiện tượng tâm lý luôn vận động và biến đổi; nghiên cứu phải làm rõ quy luật nảy sinh, biến đổi của hành vi hung tính theo thời gian và đề ra hướng can thiệp.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích, tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước.
- Phương pháp quan sát: Sử dụng bảng quan sát trực tiếp của nhà nghiên cứu theo dõi hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của trẻ trong các hoạt động ở trường.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập đánh giá từ giáo viên đứng lớp và phụ huynh học sinh.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn giáo viên và cha mẹ để làm rõ bối cảnh xuất hiện hành vi.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia tâm lý, giáo dục mầm non để chuẩn hóa công cụ đo lường và hệ thống biện pháp.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu các ca trẻ có biểu hiện hung tính nổi trội.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm chuyên dụng (tính điểm trung bình ĐTB, độ lệch chuẩn ĐLC, so sánh sai biệt, kiểm định tương quan và phân tích hệ số hồi quy).
Nguồn dữ liệu: Khảo sát thực tế trên $N = 207$ trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), cùng giáo viên phụ trách và cha mẹ của các trẻ tại Trường Mầm non 20/10 (quận Hải Châu) và Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 (huyện Hoà Vang), thành phố Đà Nẵng.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần mở đầu xác lập cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài: trình bày tính cấp thiết xuất phát từ thực trạng bạo lực học đường và yêu cầu can thiệp sớm ở lứa tuổi mầm non; xác định mục đích nghiên cứu, 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể; xác định đối tượng nghiên cứu (biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập tại Đà Nẵng); vạch rõ phạm vi nghiên cứu về nội dung (biểu hiện ra bên ngoài qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giờ ở trường, khía cạnh tâm lý, đề xuất biện pháp không thực nghiệm), địa bàn (Trường MN 20/10 quận Hải Châu và Trường MG Hoà Tiến 2 huyện Hoà Vang) và khách thể ($N = 207$ trẻ, giáo viên, cha mẹ); trình bày 3 nguyên tắc phương pháp luận, hệ thống phương pháp nghiên cứu và những đóng góp mới về mặt lý luận, thực tiễn của luận án.
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn
Chương này tổng kết lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước:
- Phân tích các công trình lý luận về biểu hiện hung tính ở trẻ trước tuổi đến trường (Shentoub & Soulairac, Goodenough, Walters, Sand, Smith & Green, Michel Born); các nghiên cứu về khác biệt giới tính (Maccoby & Jacklin, Stattin & Magnusson, Bogard, Harris, Osterman); các nghiên cứu trường diễn về diễn biến và hậu quả lâu dài của hung tính (Tremblay tại Montreal, West & Farrington tại London, White và cộng sự tại New Zealand); các nghiên cứu thực nghiệm tìm hiểu nguyên nhân từ sự thất vọng, truyền thông bạo lực và sự trừng phạt của cha mẹ (Barker, Friedrich & Stein, Haskett & Kiner, Mackenzie).
- Rà soát các công cụ đánh giá hành vi hung tính trên thế giới (CBCL, DSM-IV, MOAS, trắc nghiệm "Con vật không có thật", DBC, CSBS, CAS, Conner CBRS) và tình hình thích nghi các thang đo tại Việt Nam (Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Thị Nhân Ái, Nguyễn Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Trâm Anh).
- Điểm luận các mô hình can thiệp, giảm thiểu hành vi hung tính dựa vào nhà trường và gia đình (Making Choices, GREAT, mô hình Patterson, chương trình tại Nhật Bản của Mikayo Ando, trị liệu Adlerian, liệu pháp nhận thức - hành vi CBT, chương trình RECAP/"Nối kết" tại Việt Nam).
- Xác lập khoảng trống nghiên cứu: khẳng định sự cần thiết phải khảo sát thực nghiệm có hệ thống về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn tại các trường mầm non công lập ở Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết định hướng cho toàn bộ nghiên cứu:
- Phân tích có hệ thống 6 trường phái và mô hình lý thuyết tâm lý học giải thích nguồn gốc, cơ chế hành vi hung tính: Thuyết tiến hóa/tập tính học (Lorenz, Darwin); Thuyết phân tâm học (Freud); Thuyết động lực và Thuyết thất vọng - gây hấn (Dollard, Berkowitz); Thuyết hành vi cổ điển ($S \rightarrow R$) và Thuyết nhận thức - hành vi hiện đại ($S \rightarrow M \rightarrow R$); Quan điểm tâm bệnh học (Beck); Thuyết học tập xã hội (Bandura); Mô hình gây hấn phổ quát (GAM của Anderson & Bushman).
- Làm rõ các khái niệm công cụ: phân tích khái niệm "hành vi" theo dòng lịch sử (từ John Stuart Mill, J. Watson, X. Rubinstein, A.N. Leontiev, Phạm Minh Hạc đến Từ điển tiếng Việt); phân tích nội hàm thuật ngữ "hung tính" (nguồn gốc tiếng Latinh aggressio, đối chiếu với tiếng Anh, Pháp, Nga và Từ điển tiếng Việt); phân biệt sự khác nhau giữa "hung tính" (thuộc tính nhân cách ổn định) và "gây hấn" (hành vi bộc lộ cụ thể); định nghĩa hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn.
- Phân tích cấu trúc tâm lý, các hình thức biểu hiện ra bên ngoài (chia thành 2 nhóm: hành vi ngôn ngữ như chửi bới, đe dọa, la hét, mách lẻo; hành vi phi ngôn ngữ như đấm, đá, xô đẩy, giật đồ chơi, cắn, phá hoại đồ vật); xác định hệ thống các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố chủ quan (đặc điểm khí chất, nhận thức, kỹ năng kiểm soát cảm xúc) và yếu tố khách quan (môi trường giáo dục gia đình, phong cách ứng xử của cha mẹ, môi trường trường lớp mầm non, cách xử lý của giáo viên).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:
- Trình bày quy trình tổ chức nghiên cứu qua các giai đoạn: chuẩn bị lý luận, khảo sát thử nghiệm, khảo sát chính thức và xử lý dữ liệu.
- Quán triệt 3 nguyên tắc phương pháp luận: nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc quyết định luận duy vật và nguyên tắc phát triển trong việc thu thập và phân tích dữ liệu tâm lý.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và thang đo hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn thông qua ba nguồn đánh giá độc lập: bản quan sát hành vi của nhà nghiên cứu, phiếu khảo sát giáo viên và phiếu khảo sát phụ huynh; cụ thể hóa các chỉ báo hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ.
- Mô tả đặc điểm mẫu khảo sát thực tế: gồm $N = 207$ trẻ mẫu giáo lớn tại Trường Mầm non 20/10 (quận Hải Châu, đại diện nội thành) và Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 (huyện Hoà Vang, đại diện ngoại thành).
- Trình bày chi tiết cách thức phối hợp các phương pháp: quan sát hành vi có cấu trúc, điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu giáo viên và cha mẹ, phương pháp chuyên gia, phân tích trường hợp điển hình và các công thức toán thống kê sử dụng (ĐTB, ĐLC, so sánh $t$-test/ANOVA, phân tích hồi quy).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và thảo luận kết quả:
- Đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện: Đa số trẻ mẫu giáo lớn trong mẫu nghiên cứu chỉ bộc lộ hành vi hung tính ở mức độ thấp (hiếm khi hoặc thỉnh thoảng xuất hiện trong giờ ở lớp); hành vi được bộc lộ trực tiếp qua ngôn ngữ và cử chỉ điệu bộ.
- Phân tích chi tiết hành vi hung tính qua ngôn ngữ (la hét, cãi cọ, đe dọa bạn) và phi ngôn ngữ (xô đẩy, tranh giành đồ chơi, đánh bạn, giậm chân) dựa trên dữ liệu bảng quan sát trực tiếp và bảng hỏi giáo viên, phụ huynh.
- Phân tích các chiều tương quan và so sánh sai biệt:
- Theo giới tính: Bé trai bộc lộ hành vi hung tính thể chất/phi ngôn ngữ cao hơn rõ rệt so với bé gái; bé gái thể hiện hung tính kín đáo hơn và có xu hướng nghiêng về hành vi ngôn ngữ hoặc gián tiếp.
- Theo khu vực trường học: Trẻ ở trường ngoại thành (Hoà Vang) và nội thành (Hải Châu) có sự khác biệt về mức độ và hình thức biểu hiện hành vi hung tính do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường sinh hoạt.
- Theo mối quan hệ anh chị em: Có sự khác biệt giữa nhóm trẻ là con một và nhóm trẻ có anh chị em trong gia đình.
- Theo nghề nghiệp của cha mẹ: Dữ liệu phân tích chỉ ra sự khác biệt về mức độ hung tính của trẻ theo các nhóm nghề nghiệp của mẹ.
- Phân tích hệ số hồi quy: Xác định trọng số và mức độ tác động của các yếu tố chủ quan (đặc điểm tâm lý trẻ) và khách quan (cách đối xử của cha mẹ, phương pháp giáo dục của cô giáo) đến hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn.
- Phân tích trường hợp điển hình: Phân tích định tính các ca trẻ có biểu hiện hành vi hung tính cao, làm rõ hoàn cảnh gia đình, diễn biến hành vi tại lớp và phản ứng của giáo viên.
- Thực trạng xử lý của giáo viên: Khảo sát cách thức ứng phó của giáo viên khi trẻ xảy ra hành vi hung tính tại lớp học mầm non.
- Đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục: Xây dựng các nhóm biện pháp can thiệp sớm nhằm giảm thiểu hành vi hung tính cho trẻ mẫu giáo lớn trong trường mầm non và gia đình.
Bảng tổng hợp hệ thống dữ liệu và các chiều phân tích thực nghiệm trong luận án:
| STT |
Nội dung / Khía cạnh phân tích |
Khách thể / Nguồn số liệu |
Biến số và tiêu chí so sánh |
| 1 |
Đặc điểm khách thể nghiên cứu |
$N = 207$ trẻ mẫu giáo lớn |
Giới tính, địa bàn trường học, gia đình |
| 2 |
Mức độ biểu hiện hành vi hung tính |
3 thang đo (nghiên cứu viên, GV, phụ huynh) |
Thang phân loại mức độ (ĐTB, ĐLC) |
| 3 |
Biểu hiện qua hành vi ngôn ngữ |
Bảng quan sát của nghiên cứu viên, phiếu GV |
Các dạng phát ngôn, tần suất xuất hiện |
| 4 |
Biểu hiện qua hành vi phi ngôn ngữ |
Bảng quan sát của nghiên cứu viên, phiếu GV |
Các cử chỉ, hành động thể chất, đồ vật |
| 5 |
So sánh theo giới tính |
$N = 207$ trẻ |
Bé trai so với bé gái |
| 6 |
So sánh theo khu vực trường học |
2 trường đại diện |
Nội thành (Hải Châu) - Ngoại thành (Hoà Vang) |
| 7 |
So sánh theo quan hệ gia đình |
Trẻ mẫu giáo lớn |
Trẻ là con một so với trẻ có anh chị em |
| 8 |
So sánh theo nghề nghiệp phụ huynh |
Cha mẹ học sinh |
Các nhóm nghề nghiệp của mẹ |
| 9 |
Mức độ tác động của các yếu tố |
Mô hình hồi quy tuyến tính |
Hệ số hồi quy yếu tố chủ quan và khách quan |
| 10 |
Nghiên cứu trường hợp điển hình |
Các ca trẻ có biểu hiện hung tính cao |
Hoàn cảnh sống, bối cảnh hành vi, xử lý của GV |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
Về mặt lý luận:
- Đã phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các lý thuyết tâm lý học về hành vi hung tính nói chung và hành vi hung tính ở trẻ mẫu giáo lớn nói riêng, làm rõ cấu trúc tâm lý, đặc điểm, hình thức biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng này.
- Bổ sung dữ liệu lý luận chuyên sâu về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn cho phân ngành Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non tại Việt Nam - một phân ngành trước đây còn ít công trình nghiên cứu hệ thống về vấn đề này.
- Xây dựng bộ công cụ khảo sát và bước đầu chứng minh khả năng ứng dụng hiệu quả của bảng quan sát hành vi hung tính kết hợp đánh giá đa nguồn vào nghiên cứu tâm lý trẻ mẫu giáo lớn.
- Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về các cơ chế tâm lý của hành vi hung tính ở lứa tuổi mầm non.
Về mặt thực tiễn:
- Luận án cung cấp bức tranh thực trạng về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập tại Đà Nẵng: xác định đa số trẻ chỉ biểu hiện hành vi hung tính ở mức hiếm khi hoặc thỉnh thoảng trong thời gian ở trường; hành vi bộc lộ trực tiếp qua ngôn ngữ và cử chỉ điệu bộ.
- Chỉ ra các sai biệt có ý nghĩa thống kê về biểu hiện hành vi hung tính giữa bé trai và bé gái (bé trai bộc lộ hành vi thể chất nhiều hơn, bé gái kín đáo và thiên về ngôn ngữ), giữa trẻ ở ngoại thành (Hoà Vang) và nội thành (Hải Châu), giữa trẻ là con một và trẻ có anh chị em, cũng như sự khác biệt theo nghề nghiệp của mẹ.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan (đặc điểm tâm lý của trẻ) và khách quan (cách đối xử của cha mẹ trong gia đình, cách ứng xử và xử lý tình huống của cô giáo mầm non) thông qua phân tích hồi quy.
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy học phần Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm; cung cấp cơ sở thực tiễn cho cán bộ quản lý trường mầm non và phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
Luận án đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm can thiệp sớm và giảm thiểu hành vi hung tính cho trẻ mẫu giáo lớn, tập trung vào:
- Nâng cao nhận thức cho cha mẹ và giáo viên về các dấu hiệu nhận diện hành vi hung tính ở trẻ và trang bị các kỹ năng ứng phó, xử lý tình huống sư phạm phù hợp, tránh sử dụng bạo lực hoặc đòn roi.
- Xây dựng môi trường gia đình tích cực, thiết lập các quy tắc ứng xử phi bạo lực, tăng cường sự quan tâm, đối thoại và củng cố các hành vi đúng đắn của con cái.
- Xây dựng môi trường trường mầm non an toàn, thân thiện, lành mạnh; tổ chức không gian chơi hợp lý, cung cấp đủ đồ chơi để tránh tranh giành, giảm thiểu xung đột.
- Hỗ trợ trẻ mẫu giáo lớn học cách nhận biết bản thân, phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc (kiềm chế sự tức giận, thất vọng) và củng cố các hành vi xã hội tích cực (biết chia sẻ, hợp tác, thỏa hiệp và đồng cảm với bạn bè).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về nội dung: Luận án chỉ tập trung xem xét các biểu hiện hành vi hung tính ra bên ngoài (qua ngôn ngữ và cử chỉ, hành động phi ngôn ngữ) và tiếp cận thuần túy dưới góc độ tâm lý học, chưa đi sâu tìm hiểu các cơ chế sinh lý học thần kinh hoặc các chỉ số sinh học của trẻ.
- Về không gian và thời gian: Khảo sát biểu hiện hành vi của trẻ chỉ giới hạn trong khung thời gian trẻ sinh hoạt, học tập tại trường mầm non, chưa bao quát trực tiếp toàn bộ hành vi của trẻ tại môi trường gia đình và cộng đồng dân cư.
- Về địa bàn và mẫu khảo sát: Nghiên cứu thực hiện trên quy mô 207 trẻ tại 2 trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Trường MN 20/10 và Trường MG Hoà Tiến 2), chưa khảo sát các trường mầm non thuộc khối ngoài công lập (tư thục, nhóm trẻ gia đình).
- Về phương pháp: Đề tài mới dừng lại ở việc xây dựng và đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục trên cơ sở kết quả khảo sát thực trạng chứ chưa tổ chức thực nghiệm sư phạm để đo lường, kiểm chứng mức độ hiệu quả thực tế của các biện pháp này.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai nghiên cứu chuyên sâu về các cơ chế tâm lý và tâm - sinh lý của hành vi hung tính ở trẻ lứa tuổi mầm non.
- Mở rộng quy mô khách thể khảo sát trên các địa bàn khác nhau và ở các loại hình cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập.
- Tổ chức thực nghiệm kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp tâm lý - giáo dục đã đề xuất trong môi trường trường học và gia đình.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho nhiều đối tượng:
- Giảng viên và sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục Mầm non, Công tác xã hội: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trực tiếp cho học phần Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Tâm lý học phát triển và Giáo dục học mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm. Phần hệ thống hóa lý thuyết về hung tính (Chương 2) và tổng quan các công cụ đo lường hành vi trẻ em (Chương 1) có giá trị học thuật cao.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học: Có thể tham khảo phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, quy trình thiết kế bảng quan sát hành vi có cấu trúc, cách phối hợp ba nguồn đánh giá (nhà nghiên cứu, giáo viên, cha mẹ) và mô hình phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng tâm lý ở trẻ nhỏ (Chương 3 và Chương 4).
- Cán bộ quản lý và giáo viên các trường mầm non: Giúp nhận diện chính xác các dạng biểu hiện hành vi hung tính qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi; tham khảo bảng mô tả cách xử lý của giáo viên để điều chỉnh phương pháp quản lý lớp học, bố trí không gian chơi giảm thiểu va chạm và xây dựng trường học thân thiện, an toàn.
- Cha mẹ học sinh: Tham khảo kết quả phân tích về ảnh hưởng của phong cách giáo dục gia đình, nhận thức được tác động tiêu cực của các hình thức trừng phạt thể chất và học hỏi các kỹ năng ứng xử phù hợp khi trẻ xuất hiện các cơn tức giận hoặc hành vi chống đối.
Câu hỏi thường gặp
1. Khách thể và địa bàn khảo sát thực tiễn của luận án được lựa chọn theo tiêu chí nào?
Luận án tiến hành khảo sát trên mẫu khách thể gồm 207 trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), cùng đội ngũ giáo viên đứng lớp và cha mẹ của các trẻ này tại 2 trường mầm non công lập ở thành phố Đà Nẵng. Hai trường được lựa chọn đại diện cho hai vùng điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội đặc trưng của địa phương: Trường Mầm non 20/10 nằm trên địa bàn quận Hải Châu (khu vực nội thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục) và Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 nằm trên địa bàn huyện Hoà Vang (huyện ngoại thành thuần nông duy nhất của thành phố Đà Nẵng).
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài có những giới hạn cụ thể nào?
Tác giả xác định rõ các giới hạn: đề tài chỉ nghiên cứu biểu hiện ra bên ngoài của hành vi hung tính thông qua 2 hình thức là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; chỉ khảo sát hành vi của trẻ trong thời gian ở trường mầm non; tiếp cận vấn đề dưới góc độ tâm lý học chứ không nghiên cứu khía cạnh sinh lý học thần kinh; đề tài chỉ đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục trên cơ sở lý luận và thực trạng chứ không tổ chức thực nghiệm biện pháp can thiệp.
3. Luận án phân chia các hình thức biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn như thế nào?
Hành vi hung tính của trẻ được phân chia thành 2 nhóm biểu hiện chính: (1) Biểu hiện qua hành vi ngôn ngữ, gồm các biểu hiện như chửi bới, la hét, quát tháo, cãi cọ, đe dọa bạn, mách lẻo, sử dụng lời nói để lấn át hoặc cô lập bạn; (2) Biểu hiện qua hành vi phi ngôn ngữ, gồm các cử chỉ, hành động thể chất trực tiếp như đấm, đá, xô đẩy, cắn, cào cấu, giật đồ chơi của bạn, đập phá đồ dùng, giậm chân hoặc đóng sập cửa.
4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án đã chỉ ra sự khác biệt về hành vi hung tính theo những biến số nào?
Kết quả xử lý số liệu tại Chương 4 chứng minh có sự khác biệt về biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn theo 4 nhóm biến số: (1) Giới tính (bé trai bộc lộ hành vi thể chất/phi ngôn ngữ nhiều hơn, bé gái thiên về hành vi ngôn ngữ hoặc gián tiếp); (2) Khu vực trường học (sự khác nhau giữa trẻ trường nội thành Hải Châu và trẻ trường ngoại thành Hoà Vang); (3) Quan hệ anh chị em trong gia đình (sự khác biệt giữa trẻ là con một và trẻ có anh chị em); (4) Nghề nghiệp của cha mẹ (đặc biệt là sự khác biệt theo nhóm nghề nghiệp của người mẹ).
5. Vì sao luận án chỉ đề xuất biện pháp mà không tiến hành thực nghiệm can thiệp?
Trong phần phạm vi nghiên cứu, tác giả xác định rõ mục tiêu trọng tâm của luận án tiến sĩ này là tập trung giải quyết triệt để vấn đề cơ sở lý luận, thiết kế bộ công cụ đo lường đa nguồn và làm rõ bức tranh thực trạng cùng hệ số tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn tại địa bàn nghiên cứu. Việc tổ chức thực nghiệm can thiệp tâm lý - giáo dục đòi hỏi một quy trình can thiệp trường diễn dài hạn và phối hợp đồng bộ giữa nhiều lực lượng xã hội, do đó được tác giả định vị là hướng nghiên cứu tiếp nối trong tương lai.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Hồ Thị Thuý Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường mầm non công lập tại thành phố Đà Nẵng. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận từ các trường phái tâm lý học lớn trên thế giới, xây dựng bộ công cụ khảo sát đa nguồn kết hợp quan sát trực tiếp với bảng hỏi giáo viên và phụ huynh trên mẫu khảo sát 207 trẻ. Kết quả thực nghiệm đã làm rõ thực trạng mức độ biểu hiện hành vi qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, đồng thời chứng minh các sai biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính, địa bàn, thứ bậc con cái và nghề nghiệp của mẹ. Trên cơ sở mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng, luận án đã đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường mầm non và gia đình hiện nay.