Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác thanh tra, giám sát tổ chức tín dụng của ngân hàng nhà nước chi nhánh cấp tỉnh; Chương 2. Thực trạng công tác thanh tra, giám sát tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước tỉnh Tuyên Quang; Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước tỉnh Tuyên Quang.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT TỔ CHỨC TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH CẤP TỈNH 1. Khái niệm và sự cần thiết của công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh 1. Khái niệm công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh * Khái niệm thanh tra, giám sát Theo Từ điển tiếng Việt, “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” (Viện ngôn ngữ học, 2022). Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.
Theo Từ điển Luật học, thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định” (Bộ Tư Pháp – Viện Khoa Học Pháp Lý, 2022) Với những nghĩa trên đây, thanh tra bao hàm trong đó nghĩa kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Ngoài ra, thanh tra còn được hiểu là sự xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước nhằm khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hoạt động thanh tra do cơ quan Thanh tra Nhà nước thực hiện. Thanh tra Nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật qui định.
Thanh tra Nhà nước được tổ chức ở 3 cấp: Ở Trung ương (gọi là thanh tra Chính phủ); Thanh tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là thanh tra tỉnh) và thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc 10 tỉnh (gọi chung là thanh tra huyện). Thanh tra nhà nước bao gồm 2 loại: Thanh tra hành chính: là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp. Thanh tra chuyên ngành: là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật cũng như những qui định về chuyên môn - kỹ thuật, qui tắc quản lý ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý. Từ các nội dung trên có thể thấy, thanh tra là phạm trù dùng để chỉ hoạt động của các tổ chức thanh tra theo cấp hành chính và thanh tra chuyên ngành, lĩnh vực.
Cơ quan thanh tra và đối tượng thanh tra thường không có quan hệ trực thuộc. Cơ quan thanh tra do thủ trưởng các cơ quan hành chính thành lập, nó hoạt động với tư cách là cơ quan chức năng giúp thủ trưởng cùng cấp, vì thế có thể coi hoạt động thanh tra là hoạt động của cơ quan cấp trên tiến hành với cơ quan cấp dưới trực thuộc. Trong quá trình tiến hành hoạt động thanh tra, cơ quan thanh tra có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm công tác thanh tra, kể cả các biện pháp trách nhiệm kỷ luật và xử lý vi phạm hành chính nhưng không có quyền sửa đổi, bãi bỏ quyết định của đối tượng bị thanh tra mà chỉ có quyền tạm đình chỉ thi hành (trong một số trường hợp đặc biệt) một số loại quyết định hành chính nào đó hoặc đình chỉ hành vi hành chính vi phạm pháp luật. Giám sát là khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan quyền lực Nhà nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội và mọi công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội.
Hoạt động giám sát chủ yếu được thực hiện ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều dọc; hoạt động này được tiến hành bởi Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan tư pháp và toàn thể nhân dân thông qua hoạt động thực hiện chức năng, thẩm quyền do pháp luật qui định (Nguyễn Công Dương, 2005). 11 Như vậy, TTGS là hai hoạt động quan trọng trong việc kiểm soát, đánh giá và đảm bảo tính chính xác, tuân thủ các quy định và quy trình của tổ chức, cơ quan hoặc doanh nghiệp. Thanh tra là quá trình kiểm tra và đánh giá tính hợp pháp, hiệu quả và minh bạch trong quản lý và sử dụng tài nguyên, cũng như tuân thủ các quy định, quy trình và chính sách được áp dụng. Trong khi đó, giám sát là quá trình theo dõi và đánh giá các hoạt động và quy trình để đảm bảo tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn và mục tiêu được đặt ra.
Cả hai hoạt động này đều giúp bảo vệ sự minh bạch, trung thực và hiệu quả trong quản lý và vận hành của tổ chức và cơ quan, đồng thời cũng giúp phát hiện và ngăn chặn các vi phạm, rủi ro có thể xảy ra. * Thanh tra, giám sát các TCTD của NHNN Đối với ngành ngân hàng, mọi hoạt động TTGS các TCTD là hoạt động thanh tra chuyên ngành. Ở Việt Nam cũng như đa số các quốc gia, TTGS ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Trung ương, ở đây là NHNN Việt Nam. Theo Luật NHNN 2010 ở Việt Nam, khái niệm về thanh tra, giám sát ngân hàng được định nghĩa như sau - Theo khoản 11 điều 6: Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của NHNN đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng - Theo khoản 12 điều 6: Giám sát ngân hàng là hoạt động của NHNN trong việc thu thập, tổng hợp phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Sự cần thiết của công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh Công tác TTGS các TCTD tại các Chi nhánh của NHNN cấp tỉnh có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống ngân hàng. Công tác TTGS các TCTD là thực sự cần thiết bởi: 12 Thứ nhất, TTGS bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và tài chính: Thanh tra và giám sát giúp đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng hoạt động trong một môi trường an toàn và minh bạch, từ đó giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính. Thứ hai, TTGS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng: Hoạt động thanh tra và giám sát nhằm đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và khách hàng. Thứ ba, TTGS duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng: Bằng cách đảm bảo sự minh bạch và tuân thủ các quy định, hoạt động thanh tra và giám sát giúp tăng cường lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng.
Thứ năm, TTGS bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng: Thanh tra và giám sát đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng tuân thủ các chính sách và quy định liên quan đến tiền tệ và ngân hàng, từ đó tăng cường sự ổn định và minh bạch của hệ thống tài chính. Thứ sáu, TTGS góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng: Bằng cách đánh giá và điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tín dụng, hoạt động thanh tra và giám sát góp phần vào việc cải thiện quản lý của nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Với những lý do trên, công tác TTGS các TCTD của NHNN chi nhánh cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh và minh bạch. Nội dung của công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh Công tác thanh tra, giám sát các TCTD của NHNN chi nhánh cấp tỉnh được thực hiện ở các nội dung sau: Xây dựng bộ máy tổ chức thực hiện công 13 tác TTGS các TCTD; Lập kế hoạch TTGS các TCTD; và Tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng.
Xây dựng bộ máy tổ chức thực hiện công tác tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước Theo quy định của NHNN Việt Nam (trước tháng 6/2019) thì Cơ quan TTGS ngân hàng là đơn vị tương đương Tổng cục, trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà nước đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, bảo hiểm tiền gửi; tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố theo quy định của pháp luật và phân công của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Lập kế hoạch tổ chức tín dụng của ngân hàng Nhà nước Lập kế hoạch thanh tra và giám sát các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là quá trình quan trọng nhằm đảm bảo rằng các hoạt động của các tổ chức này được thực hiện đúng quy định và chính sách của NHNN, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và an toàn của hệ thống tài chính.