CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Tác động của cấu trúc vốn tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề thu hút sự quan tâm nhiều học giả trong nước và nước ngoài. Ở phần này, tác giả sẽ tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu, từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu để chỉ rõ hướng đi của đề tài. Các nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đền được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên thế giới. Một số những quan điểm được đưa ra bởi các lý thuyết điểm hình như lý thuyết M&M, lý thuyết trật tự phân hạng.
Lý thuyết cấu trúc vốn,. Theo lý thuyết (Modigliani Franco và Merton H Miller, 1958) chỉ ra rằng trong rường hợp không có thuế, chi phí phá sản, chi phí đại lý và thông tin bất đối xứng, và trong một thị trường hiệu quả, giá trị doanh nghiệp của một công ty không bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn. Với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp, M&M đưa ra kết luận cấu trúc vốn có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hay doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ, hiệu quả kinh doanh càng gia tăng và gia tăng tối đa khi doanh nghiêp được tài trợ bằng 100% nợ. Nghiên cứu (Haroon Mumtaz và Francesco Zanetti, 2013) ở Pakistan cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn dạng tĩnh (Myers Stewart C, 1922) cho rằng hiệu quả của doanh nghiệp có sử dụng nợ bằng hiệu quả của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với giá trị hiện tại của tấm lá chắn thuế từ nợ trừ đi giá trị hiện tại của chi phí phá sản. Cấu trúc vốn tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (Abor, 2005) nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Ghana (GSE) trong khoảng thời gian 5 năm. Với phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng trong ước tính các chức năng liên quan đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) với các biện pháp cấu trúc vốn. Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và ROE.
Tuy nhiên, một mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản và ROE đã được tìm thấy. Liên quan đến mối quan hệ giữa tổng nợ và tỷ suất lợi nhuận, kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực đáng kể giữa tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Nghiên cứu cho thấy các công ty có lợi nhuận phụ thuộc nhiều hơn vào nợ là lựa chọn tài chính chính của họ. Trong trường hợp của Ghana, một tỷ lệ cao (85%) nợ được thể hiện bằng nợ ngắn hạn.
Tương tự như vậy, ta có nghiên cứu của (Khan Abdul Ghafoor, 2012), (Awunyo-Vitor Dadson và Jamil Badu, 2012) cũng đưa ra kết luận tương tự. (Gill Amarjit, Nahum Biger và Neil Mathur, 2011) tìm cách mở rộng những phát hiện của (Abor, 2005) về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đối với hiệu quả kinh doanh bằng cách kiểm tra ảnh hưởng của cấu trúc vốn đối với hiệu quả kinh doanh của các công ty dịch vụ và sản xuất của Mỹ. Một mẫu gồm 272 công ty Mỹ niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York trong thời gian 3 năm từ 2005 – 2007 đã được chọn. Các phân tích tương quan và hồi quy được sử dụng để ước tính các chức năng liên quan đến hiệu quả kinh doanh (được đo bằng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) với các biện pháp cấu trúc vốn.
Kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ tích cực giữa i) nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và hiệu quả kinh doanh và ii) tổng nợ trên tổng tài sản 8 và lợi nhuận trong ngành dịch vụ. Những phát hiện của bài báo này cho thấy mối quan hệ tích cực giữa i) nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và lợi nhuận, ii) nợ dài hạn trên tổng tài sản và lợi nhuận, và iii) tổng nợ trên tổng tài sản và lợi nhuận trong ngành sản xuất. Bài viết này cung cấp những hiểu biết hữu ích cho chủ sở hữu và nhà điều hành, người quản lý và tổ chức cho vay dựa trên bằng chứng thực nghiệm. Tuy nhiên so với nghiên cứu của (Abor, 2005) thì tác động tích cực của nợ dài hạn đến ROE chỉ có ý nghĩa thống kê đối với ngành sản xuất.
Như vậy khi áp dụng cùng một mô hình nghiên cứu, cùng một phương pháp ước lượng nhưng ở các quốc gia khác nhau sẽ có sự khác nhau về chiều tác động của nợ dài hạn đến ROE. Ngoài ra, khi phân ra các ngành nghề khác nhau trong cùng một môi trường nghiên cứu cũng có sự khác biệt về sự tác động của nợ dài hạn đến ROE. (El-Sayed Ebaid Ibrahim, 2009) đã điều tra thực nghiệm tác động của việc lựa chọn cấu trúc vốn đối với hiệu quả kinh doanh của 64 doanh nghiệp phi tài chính ở Ai Cập với tư cách là một trong những nền kinh tế mới nổi hoặc chuyển đổi. Phương phap phân tích hồi quy OLS được sử dụng nhiều trong nghiên cứu để ước tính mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của công ty.
Sử dụng ba trong số các thước đo dựa trên kế toán về hiệu quả tài chính (tức là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận gộp) và dựa trên một mẫu các công ty niêm yết phi tài chính của Ai Cập từ năm 1997 đến năm 2005, kết quả cho thấy quyết định lựa chọn cơ cấu vốn có tác động yếu đến hiệu suất của công ty. (Chowdhury Anup và Suman Paul Chowdhury, 2010) kiểm tra ảnh hưởng của cơ cấu vốn chủ sở hữu đối với hiệu quả kinh doanh của các công ty được thành lập tại Sở giao dịch chứng khoán Dhaka (DSE) và Sở giao dịch chứng khoán Chittagong (CSE) của Bangladesh trong giai đoạn 1994-2003. Các mẫu được rút ra từ bốn lĩnh vực chiếm ưu thế nhất của ngành công 9 nghiệp, tức là kỹ thuật, thực phẩm, nhiên liệu & năng lượng, và hóa chất & dược phẩm để cung cấp một phân tích so sánh. Kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản và hiệu quả kinh doanh nhưng độ tin cậy không cao.
Trong nghiên cứu này, Chowdhury đưa ra hàm ý chính sách nên kết hợp hoàn hảo giữa nợ và vốn chủ sở hữu để tạo thành cấu trúc vốn tối ưu để hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là cao nhất. Nghiên cứu này tập trung vào các công ty xây dựng được niêm yết trong Main Board của Bursa Malaysia từ năm 2005 đến năm 2008. Tất cả 49 công ty xây dựng được chia thành các quy mô lớn, vừa và nhỏ, dựa trên số vốn huy động. Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cũng có bằng chứng cho thấy không có mối quan hệ giữa các biến được điều tra.
Đối với các công ty lớn, ROC với DEMV và EPS với LDC có mối quan hệ cùng chiều trong khi EPS với DC có mối quan hệ nghịch biến. Trong khi đó, chỉ OM với LDCE có mối quan hệ tích cực ở các công ty vừa và EPS với DC có mối quan hệ tiêu cực ở các công ty nhỏ. Tóm lại, kết quả cho thấy mối quan hệ tồn tại giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong các biến đại diện được chọn. (Abu-Rub Nour, 2012) điều tra tác động của cấu trúc vốn đối với hiệu suất của công ty.
Nghiên cứu sử dụng các thước đo hiệu suất thứ năm (bao gồm lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu so với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và Tobin's Q) làm biến phụ thuộc và bốn thước đo cơ cấu vốn (bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu) làm biến độc lập. Cuộc điều tra được thực hiện bằng cách sử dụng quy trình dữ liệu bảng điều khiển cho một mẫu của 28 công ty 10 niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Palestine (PSE) trong giai đoạn 2006-2010. Kết quả cho thấy cấu trúc vốn của công ty có tác động tích cực đến các biện pháp hoạt động của công ty, trong cả các biện pháp kế toán và thị trường, và có ý nghĩa thống kê. Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đề xuất các phương trình để xác định tác động của các khoản nợ khác nhau đối với hiệu suất của công ty.
Các kết quả này phù hợp với lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn dạng tĩnh và nghiên cứu thực nghiệm của (Antwi Samuel, Ebenezer Fiifi Emire Atta Mills và Xicang Zhao, 2012). Với nghiên cứu tại sàn chứng khoán Bombay, dữ liệu phân tích bao gồm 78 doanh nghiệp phi tài chính, (Robert M Hull và Varun Dawar, 2014) chỉ ra cấu trúc vốn tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê với cả ROA, ROE. (Asiri Batool K and Salwa A Hameed, 2014) cố gắng đo lường cách các tỷ lệ tài chính giải thích giá trị của các công ty thông qua tỷ lệ thu nhập giá hoặc tỷ lệ thị trường trên sổ sách ở Bahrain Bourse. Tất cả các công ty niêm yết tại Bahrain Bourse, ngoại trừ các công ty đã đóng, được sử dụng trong giai đoạn 1995 đến 2013.
Sử dụng tất cả các loại chính trong các tỷ lệ tài chính như lợi nhuận, thanh khoản, hiệu quả và nợ, bài báo nhận thấy rằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) là yếu tố quyết định nhất trong việc giải thích giá trị thị trường theo sau là đòn bẩy tài chính và beta. Hơn nữa, các phát hiện cho thấy quy mô của công ty cũng có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị thị trường của nó. Quy mô của công ty được đo lường thông qua tổng tài sản và tỷ lệ Q- Tobin. Về mặt này, các nhà đầu tư nhận thấy các tín hiệu khác nhau từ các công ty nhỏ so với các công ty lớn và từ các công ty tăng trưởng so với các công ty không tăng trưởng.
Về phân tích ngành, người ta thấy rằng ROA là yếu tố quyết định chính để giải thích giá trị của công ty.