CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và ngoài Việt Nam có mối liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả. Từ đây, tác giả có thể nhận định các khe hổng nghiên cứu và tạo nền móng kế thừa cho nghiên cứu của tác giả. Nội dung chương này gồm có: - Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về các nhân tố có tác động đến việc áp dụng các tiêu chuẩn kế toán ở Việt Nam cũng như ngoài Việt Nam. - Nhận định khe hổng nghiên cứu, xác định và trình bày định hướng nghiên cứu của tác giả.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trước Nghiên cứu khoa học là một quá trình có tính lịch sử hay mang tính kế thừa từ quá khứ đến hiện tại. Vì vậy, tác giả đã tiến hành tìm kiếm và tham khảo các công trình nghiên cứu đã công bố trước đó có liên quan tới đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu ở luận văn này. Tác giả phân chia các tài liệu tham chiếu này theo ba nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu liên quan đến những yếu tố có ảnh hưởng hay tác động đến việc áp dụng các chuẩn mực kế toán Việt Nam, nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu ngoài Việt Nam về việc tuân thủ các chuẩn kế toán tại quốc gia sở tại, nhóm còn lại là các nghiên cứu liên quan những yếu tố có tác động hay ảnh hưởng đến việc áp dụng VAS 17 ở Việt Nam. (1) Nghiên cứu liên quan đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán Việt Nam Theo Đặng Đức Sơn và cộng sự (2006), thực hiện nhiều các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc (Semi-structured Interview), là phỏng vấn trên các chủ đề được xác định trước, xây dựng trước các danh mục các câu hỏi và thứ tự đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng tham gian phỏng vấn, với các đối tượng chính là người sử dụng thông tin tài chính.
Nghiên cứu chỉ ra rằng hiện thực ở Việt Nam, đối tượng sử dụng thông tin tài chính của các SMEs chủ yếu là cơ quan quản lý thuế và các cơ quan quản lý nhà 7 nước có liên quan khác. Còn các đối tượng bên ngoài khác thì lo ngại về các thông tin tài chính trong các báo cáo do SMEs công bố. Các thông tin tài chính được trình bày trên báo cáo tài chính như dòng tiền, các thông tin mang tính giải trình, dự báo có khi được cung cấp một cách sơ sài hoặc có khi không được cung cấp. Theo nghiên cứu của Trần Đình Khôi Nguyên (2010), “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán trong các SMEs”, đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ kế toán của các SMEs tại Việt Nam là mức độ phức tạp của chuẩn mực, tính độc lập về nghề nghiệp, trình độ của kế toán viên, ảnh hưởng của cơ quan quản lý thuế đối với công tác kế toán, nhận thức của chủ doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời.
Tác giả xây dựng mô hình các nhân tố trên cơ sở các nghiên cứu trước của các quốc gia, vùng lãnh thổ khác Việt Nam rồi mới nghiên cứu định lượng, xác định độ phù hợp với điều kiện của Việt Nam; thực hiện trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực kế toán – kiểm toán nhằm tiến hành điều tra thử nghiệm. Quá trình điều tra thử nghiệm được thực hiện thông qua 2 nhóm – cán bộ thuế và kế toán viên làm việc tại SMEs, kết quả cho thấy, trình độ của nhân sự kế toán và quy định pháp luật có ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chế độ kế toán; kế toán chỉ quan tâm đến mục đích kê khai thuế, coi mục đích của công việc kế toán là đảm bảo tuân thủ về thuế; việc thay đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp của cơ quan thuế cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ chế độ kế toán; chi phí cho công việc kế toán chưa được đánh giá đúng mức dẫn đến việc tuân theo chế độ kế toán trong hoạt động kinh tế của các SMEs không được chú trọng, mà hệ quả của vấn đề này là chất lượng thông tin trên các báo cáo tài chính được công bố không đảm bảo hay không tin tưởng được. Với nghiên cứu Trần Đình Khôi Nguyên (2011), kết quả từ nghiên cứu cho thấy các SMEs tại Đà Nẵng tuân thủ hay vận dụng chuẩn mực kế toán vào công việc kế toán hàng ngày ở mức dưới 50%. Các chuẩn mực sử dụng phổ biến là các chuẩn mực liên quan đến doanh thu, tài sản cố định, hàng tồn kho và trình bày báo cáo tài chính.
Đặc điểm này xuất phát từ thực tế của các SMEs là các SMEs với quy mô vốn nhỏ, ít tham gia vào các giao dịch kinh tế phức tạp. Nghiên cứu cũng chỉ ra năng lực của người làm công tác kế toán trong doanh nghiệp là nguyên do có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tuân theo hay đưa 8 chuẩn mực kế toán ứng dụng vào các hoạt động kinh doanh phát sinh thường ngày tại các SMEs, tiếp đến là việc tăng cường công tác kiểm tra từ cơ quan thuế hay yêu cầu báo cáo tài chính phải được kiểm toán sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến việc tuân thủ chuẩn mực kế toán của các SMEs. Nhân tố sự quan tâm của chủ doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều trong mô hình nghiên cứu, nhưng hệ số hồi quy đều không có ý nghĩa thống kê, điều này trái với dự đoán ban đầu. Sau đó, Trần Đình Khôi Nguyên đã thực hiện tiếp các phỏng vấn chuyên sâu với chuyên viên kế toán và chủ doanh nghiệp để giải thích kết quả phân tích thống kê, thì nhận được kết quả là chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp thường quan tâm đến mục đích tuân thủ về kê khai thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế hơn là mục đích kế toán.
Nghiên cứu về vấn đề vận dụng các quy định kế toán ở các SMEs, Đặng Đức Sơn (2011) đã đưa ra năm nhân tố, là các nguyên nhân tác động đến việc tuân thủ chuẩn mực kế toán ở SMEs, trong đó, tính bắt buộc tuân thủ, yêu cầu cải thiện chất lượng thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính bên ngoài là hai nhân tố có ảnh hưởng đáng kể nhất. Ngoài ra, mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí; trình độ, kỹ năng quản lý và kế toán; thiếu cơ sở hạ tầng cũng có tác động đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán tại các SMEs. Nghiên cứu khoa học của Trần Đình Khôi Nguyên (2013): tác giả đã thông qua phương pháp nhân tố, kết quả từ một điều tra thực nghiệm các SMEs tại Đà Nẵng đã định hình bốn nhân tố phi tài chính với các thuộc tính của nó có thể ảnh hưởng đến vận dụng chuẩn mực kế toán là trình độ của kế toán viên, tài liệu hướng dẫn thực hành, tư vấn của cộng động kế toán và nhận thức của chủ doanh nghiệp. Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực kế toán có tầm ảnh hưởng đáng kể nhất.
Theo Trần Thị Thanh Hải (2015): thông qua phân tích MLR – phân tích mô hình hồi quy bội đã chỉ ra nhân tố cơ sở hạ tầng là nhân tố có tác động mạnh nhất đến việc vận dụng các văn bản pháp lý kế toán tại các SMEs; tiếp theo sau là các nhân tố tính bắt buộc tuân thủ các quy định pháp lý về kế toán; người làm kế toán; mối quan hệ lợi ích – chi phí; bản thân hệ thống văn bản pháp lý được sắp xếp theo mức độ tác động giảm dần. 9 Theo Đặng Ngọc Hùng (2017), “Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam thông qua mô hình SEM”. Tác giả đã sử dụng mô hình phương trình cấu trúc với các thang đo đã được kiểm định bằng Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố EFA để kiểm định mối liên hệ giữa mức độ vận dụng hay tuân thủ chuẩn mực kế toán với lợi ích khi các chuẩn mực kế toán được tuân thủ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, có 3 nhân tố là đặc điểm của doanh nghiệp, hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức tư vấn nghề nghiệp có quan hệ cùng chiều đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán, phù hợp với mô hình dự kiến ban đầu.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mức độ áp dụng chuẩn mực kế toán có quan hệ cùng chiều với lợi ích khi doanh nghiệp tuân thủ theo chuẩn mực kế toán. Còn với Nguyễn Thị Phương Thảo (2019), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng chuẩn mực kế toán Việt Nam - Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa Tiểu vùng Tây Bắc” thông qua nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng đã chỉ ra năm yếu tố có ảnh hưởng đến việc áo dụng chuẩn mực kế toán của các SMEs tại Tây Bắc, cụ thể, tính bắt buộc tuân thủ chuẩn mực kế toán và sự phát triển cơ sở hạ tầng có tác động thuận chiều dương trong khi nhân tố sự am hiểu và quan tâm của nhà quản lý đến công tác kế toán, đặc điểm của hệ thống chuẩn mực kế toán, kết quả hoạt động của doanh nghiệp lại có ảnh hưởng tiêu cực. (2) Nghiên cứu liên quan đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán ngoài Việt Nam Với Chee W. Chow and Adrian Wong-Boren (1987), đã thực hiện nghiên cứu trên 52 đơn vị sản xuất được niêm yết tại Mexico bằng phương pháp phân tích mô hình hồi quy với ba nhân tố quy mô, khả năng sinh lời, cơ cấu vốn của doanh nghiệp để tìm ra nhân tố có ảnh hưởng đến việc tự nguyện áp dụng chuẩn mực kế toán trong trình bày và công bố thông tin tài chính.
Kết quả cho thấy quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định kế toán trong lập báo cáo tài chính còn hai nhân tố còn lại là khả năng sinh lời, cơ cấu vốn của doanh nghiệp thì không có mối liên quan. 10 Nghiên cứu của Ahmed Ebrahim và Tarek Abdel Fattah (2015), quản trị doanh nghiệp và tuân thủ IFRS ở các thị trường đang phát triển: Trường hợp thuế TNDN ở Ai Cập. Nghiên cứu được thực hiện trên 116 mẫu (số mẫu đạt yêu cầu nghiên cứu còn lại từ 171 mẫu thu thập ban đầu) bằng nghiên cứu thực nghiệm và các nghiên cứu định lượng.